CÁC SỐ KHÁC
   + Số 261 (Tháng 11/2019)
   + Số 260 (Tháng 10/2019)
   + Số 259 (Tháng 9/2019)
   + Số 258 (Tháng 8/2019)
   + Số 257(Tháng 7/2019)
   + Số 256 (Tháng 6/2019)
   + Số 255 (Tháng 5/2019)
   + Số 254 (Tháng 4/2019)
   + Số 253 (Tháng 3/2019)
   + Số 252 (Tháng 1+2/2019)
   + Số 251 (Tháng 12/2018)
   + Số 250 (Tháng 11/2018)
   + Số 249 (Tháng 10/2018)
   + Số 248 (Tháng 9/2018)
   + Số 247 (Tháng 8/2018)
   + Số 246 (Tháng 7/2018)
   + Số 245 (Tháng 6/2018)
   + Số 244 (Tháng 5/2018)
   + Số 243 (Tháng 4/2018)
   + Số 242 (Tháng 3/2018)
   + Số 241 (Tháng 1+2 /2018)
   + Số 240 (Tháng 12/2017)
   + Số 239(Tháng 11/2017)
   + Số 238 (Tháng 10/2017)
   + Số 237 (Tháng 9/2017)
   + Số 236 (Tháng 8/2017)
   + Số 235 (Tháng 7/2017)
   + Số 234 (Tháng 6/2017)
   + Số 233 (Tháng 5/2017)
   + Số 232 (Tháng 4/ 2017)
   + Số 231 (Tháng 3/ 2017)
   + Số 230 (Tháng 1+2/ 2017)
   + Số 229 (Tháng 12/ 2016)
   + Số 228 (Tháng 11/ 2016)
   + Số 227 (Tháng 10/ 2016)
   + Số 226 (Tháng 9/2016)
   + Số 225 ( Tháng 8/2016)
   + Số 224 (Tháng 7 - 2016)
   + Số 223 (Tháng 6/2016)
   + Số 222 (Tháng 5/2016)
   + Số 221 (tháng 4/2016)
   + Số 220 (tháng 3/2016)
   + Số 218 + 219 (Xuân Bính Thân)
   + Số 217 (tháng 12/ 2015)
   + Số 216 (Tháng 11/ 2015)
   + Số 215 (Tháng 10/ 2015)
   + Số 214 (Tháng 9/ 2015))
   + Số 213 (Tháng 8/ 2015)
   + Số 212 (Tháng 7/ 2015)
   + Số 211 (Tháng 6/ 2015)
   + Số 210 (Tháng 5/ 2015)
   + Số 209 (Tháng 4/ 2015)
   + Số 208 (Tháng 3/ 2015)
   + số 206 + 207 (số Xuân Ất Mùi 2015)
   + Số 205 (Tháng 12/ 2014)
   + Số 204 (Tháng 11/ 2014)
   + Số 203 (Tháng 10/ 2014)
   + Số 201 + 202 (Tháng 8,9/ 2014)
   + Số 200 (Tháng 7/ 2014)
   + Số 199 (Tháng 6/ 2014)
   + Số 198 ((Tháng 5/ 2014)
   + Số 197 (Tháng 4/ 2014)
   + Số 196 (Tháng 3/ 2014)
   + Số 194 + 195 (Xuân Giáp Ngọ 2014)
   + Số 193 (Tháng 12/ 2013)
   + Số 192 (Tháng 11/ 2013)
   + Số 191 (Tháng 10/ 2013)
   + Số 190 (Tháng 9/ 2013)
   + Số 189 (Tháng 8/ 2013)
   + Số 188 (Tháng 7/ 2013)
   + Số 187 (Tháng 6/ 2013)
   + Số 186 (Tháng 5/ 2013)
   + Số 185 (Tháng 4/ 2013)
   + Số 184 (Tháng 3/ 2013)
   + Số 183 (Xuân Quý Tỵ/ 2013)
   + Số 182 (Tháng 12/ 2012)
   + Số 181 (Tháng 11/ 2012)
   + Số 180 (Tháng 10/ 2012)
   + Số 179 (Tháng 8,9/ 2012)
   + Số 178 (Tháng 7/ 2012)
   + Số 177 (Tháng 6/ 2012)
   + Số 176 (Tháng 5/ 2012)
   + Số 175 (Tháng 4/ 2012)
   + Số 174 (Tháng 2,3/ 2012)
   + Số172 +173 (Xuân Nhâm Thìn 2012)
   + Số 171 (Tháng 11/ 2011)
   + Số 170 (Tháng 10/ 2011)
   + Số 169 (Tháng 8,9/ 2011)
   + Số 168 (Tháng 7/ 2011)
   + Số 167 (Tháng 6/ 2011)
   + Số 166 (Tháng 5/ 2011)
   + Số 165 (Tháng 4/ 2011)
   + Số 164 (Tháng 3/ 2011)
   + Số163 Xuân Tân Mão 2011
   + Số 162 (Tháng 12/ 2010)
   + Số 161 (Tháng 10,11/ 2010)
   + Số 160 (Tháng 9/ 2010)
   + Số 159 (Tháng 7/ 2010)
   + Số 158 (Tháng 6/ 2010)
   + Số 157 (Tháng 5/ 2010)
   + Số 156 (Tháng 4/ 2010)
   + Số 155 (Tháng 3/ 2010)
   + Số 153-154 Xuân Canh Dần 2010
   + Số 152 (Tháng 12/ 2009)
   + Số 151 (Tháng 11/ 2009)
   + Số 150 (Tháng 10/ 2009)
   + Số 149 (Tháng 8,9/ 2009)
   + Số 148 (Tháng 7/ 2009)
   + Số 147 (Tháng 6/ 2009)
   + Số 146 (Tháng 5/ 2009)
   + Số 145 (Tháng 4/ 2009)
   + Số 143 (Tháng 3/ 2009)
   + Số 141-142 Xuân Kỷ Sửu 2009
   + Số 139-140 (Tháng 11,12/ 2008)
   + Số 138 (Tháng 10/ 2008)
   + Số 137 (Tháng 9/ 2008)
   + Số 136 ( (Tháng 8/ 2008)
 
Số 175 (Tháng 4/ 2012)
 
Gặp lại chị Kha

Phan Bùi BẢo Thy

Hàng chục năm qua, nhiều người dân từ già đến trẻ cư ngụ ở cái xóm nhỏ bên nách chợ Hàn-Đà Nẵng, ai cũng biết và vô cùng quý mến chị Chính thương binh nặng. Một thân một mình, trong hoàn cảnh chỉ còn một chân, một mắt, một tay, chị lặng lẽ vừa chống chèo với cuộc sống, vừa tích cực tham gia cùng các tổ chức từ thiện xã hội, băng rừng, lội suối để mang niềm tin đến với người nghèo ở khắp nẻo miền Trung... Ấy vậy mà không nhiều người biết được rằng, trong những năm tháng chiến tranh ác liệt nhất, khi mới 11 tuổi chị đã là một giao liên năng nổ của phong trào cách mạng ở địa phương. Chị là người phụ nữ đầu tiên trên mặt trận Quảng – Đà đã dũng cảm, mưu trí lấy súng AR15 của giặc giao cho du kích làm khí giới chiến đấu; là người đầu tiên bắt sống sỹ quan Mỹ ngay giữa chiến trường; là người đã quên mình chặn hướng tấn công của 22 xe tăng địch, để cứu sống 8 thương binh của ta đang ẩn nấp chờ được đưa về hậu cứ; là nguyên mẫu của nhân vật chị Kha trong tiểu thuyết nổi tiếng "Hồi đó ở Sa Kỳ” của nhà văn Bùi Minh Quốc; là nữ anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ của dân tộc Việt Nam...

Tên đầy đủ của chị là Trần Thị Chính, sinh năm 1945, tại thôn Đông Hòa, xã Điện Thọ, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Chị được sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống Cách mạng, ở một vùng đất cách mạng. Cha mẹ chị đều là cơ sở nuôi giấu cán bộ của ta trong thời kỳ chống Pháp. Năm 1951, do bị chỉ điểm, cha chị bị Pháp bắt đưa về đồn để tra tấn hòng khai thác thông tin, nhưng ông đã kiên cường trung thành với Cách mạng. Biết không làm gì được, Pháp đã chặt đầu ông để uy hiếp phong trào. Mẹ chị sau đó cũng rơi vào tay giặc, trải qua nhiều trận đòn tra khảo, cuối cùng đã chết vì bệnh tật ốm đau. Anh ruột của chị, mới 16 tuổi cũng đã được các chú, các anh hướng dẫn tình nguyện đi lính cho giặc để làm nội gián. Mấy tháng trong hàng ngũ của quân thù, ông Trần Lưới anh chị đã cùng với một người bạn đồng ngũ là cơ sở của ta vẽ thành công sơ đồ đồn giặc. Sơ đồ ấy đã được chuyển về cho lực lượng của ta, để từ đó ta tổ chức những trận công đồn mang về nhiều thắng lợi. Sau đó, ông Lưới bỏ ngũ để tham gia vào lực lượng Bộ đội của Đại đội 8-huyện đội Điện Bàn, đến năm 1954 ông bị thương nên được đưa về hoạt động cơ sở ở vùng Đại Lộc (Quảng Nam), hoạt động được chẳng bao lâu thì ông bị bọn Quốc dân Đảng truy lùng để bắt. Từ đó, ông trốn về quê nhà ở Điện Thọ, Điện Bàn (Quảng Nam) tiếp tục làm cơ sở, rồi thoát ly chuyển sang làm việc ở ngành giao thông cho đến ngày nghỉ hưu.

Năm 1957, mới 11 tuổi, chị Chính đã được các anh ruột của mình hướng dẫn làm giao liên, vận chuyển thư từ cho các cơ sở ở địa phương. Sang năm 1958, thời điểm này địch triển khai thực hành Luật 10/59 rất quyết liệt, chúng đánh phá triền miên nên các đường dây cơ sở cách mạng ở địa phương có hồi bị gián đoạn. Năm 1960, chị Chính theo một người anh chuyển vào Sài Gòn và nhanh chóng nối liên lạc với các cơ sở của ta. Ở Sài Gòn, chị ngụ tại số 7/11 đường Nguyễn Huệ-Phú Nhuận. Từ đây, chị tiếp tục làm nhiệm vụ giao liên cho lực lượng Biệt động thành Sài Gòn. Thời gian này, dưới vỏ bọc là một cô bé nhà quê vào phố học nghề thợ may, chị thường xuyên mang thư của các cơ sở để chuyển đến cho anh em đằng mình bị bắt đi quân dịch. Một lần vào đầu năm 1962, chị nhận nhiệm vụ mang kíp nổ đến một địa chỉ ở quận 10, nhưng sau lần ấy, chị được cơ sở của ta thông báo là chị đã bị tình nghi. Ngay sau đó, chị báo cáo với cấp trên và được tổ chức cho chị quay lại quê nhà để tiếp tục hoạt động một cách hợp pháp.

Trở lại quê nhà ở thôn Đông Hòa, xã Điện Thọ, chị đã tìm một mảnh đất ở chợ Đông Quan để mở tiệm may và tổ chức ngay tại đây một trạm giao liên hỏa tốc. Những lúc tình hình yên ổn thì thư từ, chỉ thị từ chiến khu chuyển về khu vực Hòa Vang và 6 xã vùng cát của huyện Điện Bàn đều do các anh nam giới phụ trách. Những lúc tình hình căng thẳng thì chị được phân công mang thư hỏa tốc từ chiến khu gửi về bằng con đường nhanh nhất chuyển đến cho các cơ sở ở các xã Điện Nam, Điện Ngọc và Hòa Vang...Với những thành tích và lòng nhiệt thành với cách mạng, tháng 10 năm 1963, chị được vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng.

Năm 1964, tình hình bắt đầu trở nên căng thẳng, địch quyết liệt dồn dân vào các ấp chiến lược để dễ bề quản lý và tận diệt những mầm mống yêu nước ở địa phương. Chị nhớ lại, lúc ấy địch lùng sục vô cùng ráo riết, hễ phát hiện ai có dấu hiệu theo cách mạng là chúng trừ khử ngay, rất nhiều kiểu thủ tiêu man rợ đã được chúng áp dụng nhằm diệt trừ và khủng bố lòng yêu nước của đồng bào ta.

Trước tình cảnh ấy, lãnh đạo huyện đội Điện Bàn đã quyết định đưa quân đến phối hợp với lực lượng du kích của xã Điện Thọ để đánh vào các đồn lính Bảo an và Dân vệ của địch. Sau một trận đánh lớn, ta có 8 đồng chí bị thương. Chị Chính được các anh giao nhiệm vụ băng bó vết thương, tiếp viện cháo, sữa và bố trí ẩn nấp trong một bãi mía để chờ lúc trời tối sẽ có người mở đường đưa các đồng chí thương binh ấy ra vùng tự do. Khoảng hơn 7 giờ sáng, khi chị đang may áo quần ở chợ Đông Quan thì nghe tiếng xe tăng của địch hành quân ầm ầm nhằm vào hướng quê chị. Tiếp đó là tiếng người dân í ới gọi nhau chạy loạn vì sợ đoàn xe tăng này sẽ nổ súng tấn công. Nhìn về hướng đường cái, chị thấy có đến 4-5 chiếc đi đầu tiên đã vượt từ quốc lộ 1 qua khỏi đường ray xe lửa, rồi tiến thẳng về phía bãi mía nơi có 8 thương binh đang ẩn nấp. Ngay lập tức chị lao ra đường, chạy đến hướng lao tới của đoàn xe tăng, chị dang hai tay ra để chặn đường rồi gào khóc thảm thiết "Các anh ơi, cha mẹ em bị các anh pháo kích chết hết, em còn một bầy em dại đang đói rách đứng khóc ở trong kia, các anh mà cán mía của em thì mấy đứa em của em chết đói hết...”. Chị càng gào khóc thì xe tăng địch càng lao tới. Đến lúc xe tăng tiến gần đến đám mía thì chị nằm ngang xuống mặt đường với ý nghĩ nếu xe tăng có cán chết chị thì người dân sẽ ùa ra để phản đối. Lúc ấy những thương binh trong đám mía hy vọng sẽ được an toàn. Thấy chị nằm ngang chắn đường hành quân, đoàn xe tăng của địch dừng lại, mấy tên lính từ trên xe nhảy xuống, dùng dùi cui đánh chị tới tấp. Đau đớn là thế mà chị vẫn ngẩng cao gương mặt thanh xuân để gào khóc thê thiết trước làn roi của kẻ thù. Chợt chị nhìn thấy một quân nhân mang súng ngắn bên mình, đoán chắc đây là viên chỉ huy hành quân, nhanh như cắt, chị ngồi dậy rồi nhảy xổ đến ôm chầm lấy viên chỉ huy để than khóc, giải bày "anh ơi! Anh cứu em với, cứu mấy đứa em của em với...”. Viên chỉ huy nghiêm nét mặt hỏi: "Có phải cộng sản biểu mày làm việc này không?”. Chị trả lời rằng "Cả làng này ai cũng biết hoàn cảnh của em, em là thợ may trong chợ chứ có biết chi ai là cộng sản...”. Nghe lời van nài của chị, viên chỉ huy vẫy tay cho đám thuộc hạ của mình tiếp tục hành quân theo hướng khác. Sau lần ấy, chị thở phào nhẹ nhõm khi bất ngờ hoàn thành xuất sắc một nhiệm vụ mà trước đó chẳng ai nghĩ tới và cũng chẳng ai giao cho chị. Tinh thần bất khuất của người con gái thôn Đông Hòa được tổ chức cách mạng địa phương đánh giá rất cao. Chiều hôm ấy, khi mặt trời khuất xa sau rặng núi, xóm làng yên bình hơn vì vắng bóng giặc đi càn. Chị đến tiếp tế, cháo, sữa và băng bó lại vết thương cho các anh để những cán bộ cơ sở và cán bộ từ vùng căn cứ của ta tổ chức đưa 8 đồng chí thương binh theo hướng xã Điện Tiến lên núi Bồ Bồ để ra vùng tự do an toàn.

Một lần, chị nghe anh em du kích bàn tán với nhau tìm cách để lấy súng địch đánh lại địch thì hiệu quả kháng chiến sẽ tốt hơn. Vậy là chị quyết tâm sẽ thực hiện cho bằng được cái công việc mà nhiều người đang suy nghĩ. Được anh Lý Quý lúc đó là Bí thư huyện ủy Điện Bàn động viên, khích lệ. Chị triển khai ngay công việc bám chặt một tiểu đội lính ngụy để nắm rõ quân số giặc. Trong một trận giao tranh giữa tiểu đội ngụy này với du kích địa phương, có một tên giặc bị trúng đạn ở tay gục xuống bên bờ ruộng. Chị Chính đã nhanh trí ôm một nắm rơm chạy đến phủ lên cánh tay của tên giặc bị thương để lấy khẩu súng AR15 của giặc mang về giao cho du kích địa phương trước sự chứng kiến và than phục của anh Nguyễn Khải lúc ấy là Trưởng ban tuyên huấn của xã Điện Thọ.

Năm 1967, có một Tiểu đội An ninh của Mỹ thường xuyên phục kích, đánh phá phong trào cách mạng ở địa phương. Lính Mỹ trong Tiểu đội này rất hiếu chiến và được huấn luyện rất tinh nhuệ. Chúng tập kích nhằm vào anh em du kích ở các xã Điện Thọ, Điện Hòa và các xã khác thuộc huyện Điện Bàn bị thương tích và hy sinh rất nhiều. Có giai đoạn, ta điều Đại đội R20 về nằm vùng suốt cả tháng trời ở địa bàn mà vẫn không tiêu diệt được tiểu đội lính Mỹ này.

Một hôm, trong cuộc họp Đảng ủy xã, các đồng chí Bí thư, chủ tịch xã đã cùng anh em trong Đảng ủy bàn bạc nhiều đến việc đánh hạ Tiểu đội lính Mỹ để giảm thiểu tổn thất cho lực lượng cách mạng. Với tư cách là một đảng ủy viên của Đảng ủy xã Điện Thọ, chị Chính đã xin tình nguyện được tham gia vào nhiệm vụ đánh Tiểu đội lính Mỹ đang đóng quân trên địa bàn này.

Một buổi sang cuối năm 1967, khi mọi người dân đang háo hức đổ dồn ra Đà Nẵng để thực hiện theo kế hoạch đã hợp đồng trên toàn tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng là tập dượt để chuẩn bị cho việc nổi dậy vào dịp tết Mậu Thân 1968. Chị Chính đang ngồi trong nhà thì nghe tiếng của đồng chí Bí thư Đảng ủy xã nói lớn "Ai trong nhà nhắn giùm con Chính bắt con gà trống trả cho tui nghe...”. Nghe như vậy, chị Chính biết được rằng đang có lính Mỹ ở trên địa bàn xã. Chị vội vàng thay quần áo, rồi xách hai chiếc thùng đi ra theo hướng có lính Mỹ. Đi được một đoạn thì chị thấy có một lính Mỹ da đen đang ngồi ôm súng gác kề với một bụi tre trước nhà một người quen. Chị chủ động tiến lại gần để hỏi thăm người lính Mỹ. Chị xin thuốc lá Salem, rồi cùng hút với viên lính gác, sau đó chị nói là chị vào trong nhà người quen để trả hai chiếc thùng gánh nước. Khi chị đi vào trong nhà thì thấy có đến gần 20 lính Mỹ đang đứng ngồi nhốn nháo, áo quần bê bết bùn lầy, chắc là chúng vừa trở về sau một cuộc hành quân mật phục. Thấy chị bước vào, cả đám xúm lại hỏi chuyện rất vui vẻ, chị cũng giả vờ vui vẻ, rồi tiến đến ngồi bên chiếc giường tre, nơi có một sỹ quan Mỹ đang nằm nghỉ. Thấy chị ngồi xuống, viên thiếu úy cũng ngồi dậy để trò chuyện. Sau hơn 2 tiếng đồng hồ trò chuyện, chị quyết định mời viên sĩ quan Mỹ về nhà mình chơi, nhằm mục đích để cho tổ du kích đang ém quân phối hợp với chị tổ chức bắt sống. Lúc đầu viên sĩ quan Mỹ không chịu đi nhưng sau một hồi thuyết phục khôn khéo của chị, cuối cùng gã cũng đi. Chị dẫn viên sĩ quan Mỹ đi trên đường làng, vừa đi, vừa trò chuyện. Gặp lúc trời mưa, viên sĩ quan Mỹ lấy mũ trên đầu che cho chị, chị cũng lấy chiếc nón lá của mình đội lên đầu viên lính Mỹ. Đến đoạn đường vắng, chị nhận được tín hiệu của tổ du kích hỗ trợ thông báo đã an toàn để hành động. Chị vờ quàng tay qua ôm viên sĩ quan Mỹ, rồi nhanh tay tước khẩu súng Rulo mà gã đang đeo lủng lẳng bên mình. Thấy nhiều người xuất hiện đột ngột trước mắt mình, viên sĩ quan Mỹ chỉ kịp hô lên mấy tiếng Vi-Xi...Vi-Xi rồi đành chấp nhận thúc thủ trước đòn tấn công nhanh gọn của chị Chính và tổ du kích...

Sau chiến công bắt sống viên sĩ quan Mỹ ngay trên mặt trận Quảng-Đà, chị Chính càng được tổ chức và các đồng chí lãnh đạo tin tưởng để giao phụ trách nhiều công việc quan trọng khác. Phía địch, chúng lồng lộn, điên tiết vì một sĩ quan được đào tạo hết sức bài bản và hiện đại lại bị một nữ Việt cộng bắt sống một cách dễ dàng. Người chủ căn nhà nơi đám lính Mỹ đóng quân đã bị bắt khẩn cấp và bị tra tấn hết sức dã man. Là người dân địa phương, người chủ căn nhà ấy không thể trả lời với lính Mỹ rằng là ông không biết gì về tung tích của chị. Nhà chị nhanh chóng bị bố ráp để lục soát, chị phải dạt ra địa điểm khác, ẩn náu trong hầm bí mật và bắt đầu một chặng đường mới là hoạt động bất hợp pháp trong lòng địch. Truy lùng để bắt chị không được, ảnh chân dung của chị được bọn Mỹ và ngụy in ra rất nhiều, dán khắp nơi để treo giải thưởng cho bất cứ ai phát hiện và bắt được chị. Trước tình hình căng thẳng như thế, nhưng chị vẫn kiên gan hoạt động, chị tổ chức phong trào phụ nữ ở địa phương, tổ chức các tổ công tác cơ động để chuyển thư hỏa tốc đến với những cơ sở của ta trên mặt trận Quảng – Đà. Vận động binh lính ngụy quân rã ngũ, rải truyền đơn...

Năm 1971, trong một chuyến vận chuyển tài liệu cho một cơ sở của ta, chị bị địch phục kích, bị trọng thương nên phải nằm chửa trị dài ngày dưới những căn hầm bí mật. Vết thương quá nặng, mặc dù bác sỹ Nhâm và các y sỹ, y tá ở trạm quân y nằm trong căn cứ thuộc xã Điện Phước tận tình chạy chữa, nhưng chị vẫn vĩnh viễn mất đi một con mắt, một chân và một cánh tay hoàn toàn bị tê liệt.

Từ năm 1966, nhà văn Bùi Minh Quốc đã đến hoạt động ở vùng Điện Thọ, đã biết rất nhiều về chị, về những hành động anh dũng của chị trong những năm tháng chiến tranh. Cảm kích trước tấm lòng vì cách mạng của người con gái ở thôn Đông Hòa. Sau này, nhà văn Bùi Minh Quốc đã khắc họa lại những chiến công của chị, những suy nghĩ của chị, những khát vọng lớn lao của chị về quê hương và Tổ quốc qua nhân vật chị Kha trong tiểu thuyết chiến tranh nổi tiếng "Hồi đó ở Sa Kỳ”. Cuốn tiểu thuyết này đã được tái bản nhiều lần bởi nhiều nhà xuất bản...

Giờ đây, ở tuổi 65, với tấm thân đầy vết thương của kẻ thù trong chiến tranh để lại (chị là thương binh hạng ¼). Chị vẫn một mình lặng lẽ sống, lặng lẽ góp sức mình thông qua công tác từ thiện xã hội. Ốm đau, tàn tật là thế nhưng chị chưa hề bỏ lỡ một chuyến cứu trợ hay khám bệnh từ thiện nào đến những bản làng vùng sâu, vùng xa, vùng chiến khu cách mạng mà những người quen của chị tổ chức. Hôm gặp tôi, chị khoe là vừa thực hiện xong ước mơ đi thắp hương dọc các nghĩa trang liệt sỹ ở các địa phương vùng Trung bộ. Khoe được ông Bí thư thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh tạo điều kiện bằng tiền túi để ra Hà Nội vào lăng viếng Bác Hồ. Được tham gia giao lưu cùng đoàn Anh hùng và mẹ Việt Nam anh hùng hành hương về thủ đô nhân đại lễ nghìn năm Thăng Long...

Chỉ tay về hướng bức tường nhà đã úa màu thời gian, chị nói với tôi rằng: "Em nhìn đấy, cả cuộc đời của chị chỉ còn lại những thứ này”. Tôi bước lại gần để nhìn cho tường tận, một giấy chứng nhận chiến sĩ thi đua từ năm 1966; một Huân chương chiến công; một bằng chứng nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân do Nhà nước phong tặng ngày 28 tháng 5 năm 2010 cho chị với tư cách là "Nguyên phó ban binh vận xã Điện Thọ, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” và một bức ảnh chân dung mà ngày xưa kẻ thù đã dùng để tầm nã chị.

P.B.B.T

 
 CÁC BÀI KHÁC
- Trụ sở: K54/10 Ông Ích Khiêm, thành phố Đà Nẵng
- ĐT: 0511.2211823, Fax: 0511.3519300
- Email: tapchinonnuoc@gmail.com