CÁC SỐ KHÁC
   + Số 269 (Tháng 7/2020)
   + Số 268 (Tháng 6/2020)
   + Số 267 (Tháng 5/2020)
   + Số 266 (Tháng 4/2020)
   + Số 265 (Tháng 3/2020)
   + Số 263 (Xuân Canh Tý 2020)
   + Số 262 (Tháng 12/2019)
   + Số 261 (Tháng 11/2019)
   + Số 260 (Tháng 10/2019)
   + Số 259 (Tháng 9/2019)
   + Số 258 (Tháng 8/2019)
   + Số 257(Tháng 7/2019)
   + Số 256 (Tháng 6/2019)
   + Số 255 (Tháng 5/2019)
   + Số 254 (Tháng 4/2019)
   + Số 253 (Tháng 3/2019)
   + Số 252 (Tháng 1+2/2019)
   + Số 251 (Tháng 12/2018)
   + Số 250 (Tháng 11/2018)
   + Số 249 (Tháng 10/2018)
   + Số 248 (Tháng 9/2018)
   + Số 247 (Tháng 8/2018)
   + Số 246 (Tháng 7/2018)
   + Số 245 (Tháng 6/2018)
   + Số 244 (Tháng 5/2018)
   + Số 243 (Tháng 4/2018)
   + Số 242 (Tháng 3/2018)
   + Số 241 (Tháng 1+2 /2018)
   + Số 240 (Tháng 12/2017)
   + Số 239(Tháng 11/2017)
   + Số 238 (Tháng 10/2017)
   + Số 237 (Tháng 9/2017)
   + Số 236 (Tháng 8/2017)
   + Số 235 (Tháng 7/2017)
   + Số 234 (Tháng 6/2017)
   + Số 233 (Tháng 5/2017)
   + Số 232 (Tháng 4/ 2017)
   + Số 231 (Tháng 3/ 2017)
   + Số 230 (Tháng 1+2/ 2017)
   + Số 229 (Tháng 12/ 2016)
   + Số 228 (Tháng 11/ 2016)
   + Số 227 (Tháng 10/ 2016)
   + Số 226 (Tháng 9/2016)
   + Số 225 ( Tháng 8/2016)
   + Số 224 (Tháng 7 - 2016)
   + Số 223 (Tháng 6/2016)
   + Số 222 (Tháng 5/2016)
   + Số 221 (tháng 4/2016)
   + Số 220 (tháng 3/2016)
   + Số 218 + 219 (Xuân Bính Thân)
   + Số 217 (tháng 12/ 2015)
   + Số 216 (Tháng 11/ 2015)
   + Số 215 (Tháng 10/ 2015)
   + Số 214 (Tháng 9/ 2015))
   + Số 213 (Tháng 8/ 2015)
   + Số 212 (Tháng 7/ 2015)
   + Số 211 (Tháng 6/ 2015)
   + Số 210 (Tháng 5/ 2015)
   + Số 209 (Tháng 4/ 2015)
   + Số 208 (Tháng 3/ 2015)
   + số 206 + 207 (số Xuân Ất Mùi 2015)
   + Số 205 (Tháng 12/ 2014)
   + Số 204 (Tháng 11/ 2014)
   + Số 203 (Tháng 10/ 2014)
   + Số 201 + 202 (Tháng 8,9/ 2014)
   + Số 200 (Tháng 7/ 2014)
   + Số 199 (Tháng 6/ 2014)
   + Số 198 ((Tháng 5/ 2014)
   + Số 197 (Tháng 4/ 2014)
   + Số 196 (Tháng 3/ 2014)
   + Số 194 + 195 (Xuân Giáp Ngọ 2014)
   + Số 193 (Tháng 12/ 2013)
   + Số 192 (Tháng 11/ 2013)
   + Số 191 (Tháng 10/ 2013)
   + Số 190 (Tháng 9/ 2013)
   + Số 189 (Tháng 8/ 2013)
   + Số 188 (Tháng 7/ 2013)
   + Số 187 (Tháng 6/ 2013)
   + Số 186 (Tháng 5/ 2013)
   + Số 185 (Tháng 4/ 2013)
   + Số 184 (Tháng 3/ 2013)
   + Số 183 (Xuân Quý Tỵ/ 2013)
   + Số 182 (Tháng 12/ 2012)
   + Số 181 (Tháng 11/ 2012)
   + Số 180 (Tháng 10/ 2012)
   + Số 179 (Tháng 8,9/ 2012)
   + Số 178 (Tháng 7/ 2012)
   + Số 177 (Tháng 6/ 2012)
   + Số 176 (Tháng 5/ 2012)
   + Số 175 (Tháng 4/ 2012)
   + Số 174 (Tháng 2,3/ 2012)
   + Số172 +173 (Xuân Nhâm Thìn 2012)
   + Số 171 (Tháng 11/ 2011)
   + Số 170 (Tháng 10/ 2011)
   + Số 169 (Tháng 8,9/ 2011)
   + Số 168 (Tháng 7/ 2011)
   + Số 167 (Tháng 6/ 2011)
   + Số 166 (Tháng 5/ 2011)
   + Số 165 (Tháng 4/ 2011)
   + Số 164 (Tháng 3/ 2011)
   + Số163 Xuân Tân Mão 2011
   + Số 162 (Tháng 12/ 2010)
   + Số 161 (Tháng 10,11/ 2010)
   + Số 160 (Tháng 9/ 2010)
   + Số 159 (Tháng 7/ 2010)
   + Số 158 (Tháng 6/ 2010)
   + Số 157 (Tháng 5/ 2010)
   + Số 156 (Tháng 4/ 2010)
   + Số 155 (Tháng 3/ 2010)
   + Số 153-154 Xuân Canh Dần 2010
   + Số 152 (Tháng 12/ 2009)
   + Số 151 (Tháng 11/ 2009)
   + Số 150 (Tháng 10/ 2009)
   + Số 149 (Tháng 8,9/ 2009)
   + Số 148 (Tháng 7/ 2009)
   + Số 147 (Tháng 6/ 2009)
   + Số 146 (Tháng 5/ 2009)
   + Số 145 (Tháng 4/ 2009)
   + Số 143 (Tháng 3/ 2009)
   + Số 141-142 Xuân Kỷ Sửu 2009
   + Số 139-140 (Tháng 11,12/ 2008)
   + Số 138 (Tháng 10/ 2008)
   + Số 137 (Tháng 9/ 2008)
   + Số 136 ( (Tháng 8/ 2008)
 
Số 215 (Tháng 10/ 2015)
 
Khí thiêng Ngũ Hành Sơn những giá trị văn hóa cộng hưởng - Nguyễn Quang Trung Tiến

Về mặt lịch sử, dưới thời nhà Trần, từ tháng 3 đến tháng 11 năm Tân Sửu (1301), sau khi nhường ngôi cho con, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đi kinh lý các miền trong nước và sang thăm Champa, đồng thời hứa gả công chúa cho vua Champa để kết thân. Kết quả vào tháng 2 năm Ất Tỵ (1305), vua Champa sai Chế Bồ Đài và hơn 100 tùy tùng sang Đại Việt dâng sính lễ quý để cầu hôn. Đến tháng 6 năm Bính Ngọ (1306), công chúa Huyền Trân nhà Trần được gả cho vua Champa là Chế Mân (Jaya Simhavarman III), với sính lễ là hai châu Ô, Lý (gồm phần đất từ tỉnh Quảng Trị đến bắc sông Thu Bồn thuộc tỉnh Quảng Nam ngày nay). Như vậy, chủ trương hòa hiếu của vua Trần Nhân Tông đã dẫn đến sự hòa hợp giữa hai dân tộc Chăm - Việt, mở ra sự gắn kết khu vực Ngũ Hành Sơn với không gian vùng Thuận - Quảng xưa, nơi diễn ra sự giao thoa và tiếp biến văn hóa Chăm - Việt điển hình của Việt Nam trong lịch sử.

Sau khi tiếp quản, năm 1307, nhà Trần đổi hai châu Ô, Lý thành Thuận Châu và Hóa Châu. Khu vực Ngũ Hành Sơn nằm ở phía nam Hóa Châu, giữa đoạn đường từ đèo Hải Vân đến phía bắc sông Thu Bồn.

Theo truyền thuyết người Chăm, Ngũ Hành Sơn hình thành là do vỏ trứng của Rùa Vàng nứt ra, trở thành 5 trái núi. Đối với người Việt, từ khi kế thừa di sản này, ngoài tên gọi dân gian là Non Nước, cụm núi còn được gọi theo nhiều tên khác như Ngũ Uẩn Sơn, Ngũ Chỉ Sơn, núi Tam Thai. Dưới thời Nguyễn, vua Minh Mạng đặt tên núi là Ngũ Hành Sơn và được cả Nhà nước lẫn nhân dân ghi chép, lưu truyền thông dụng cho đến nay. Riêng trong thời kỳ Pháp xâm lược và thống trị, người Pháp gọi Ngũ Hành Sơn là núi Cẩm Thạch (Les Montagnes de Marbre)1.

Triều Nguyễn gọi khu vực này là Ngũ Hành Sơn vì có năm quả núi tương ứng theo ngũ hành và đặt tên từng ngọn là Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Hỏa Sơn và Thổ Sơn (Riêng Hỏa Sơn có 2 ngọn núi là Dương Hỏa Sơn và Âm Hỏa Sơn). Do núi đá bị nước mưa và khí hậu tác động nên thiên nhiên đã tạo ra những hang động và hình thù kỳ thú làm cho núi có những sắc thái đặc thù mang vẻ linh thiêng. Đá cẩm thạch tại Ngũ Hành Sơn độc đáo ở chỗ có màu ngũ sắc, phân chia theo từng núi: đá ở Thủy Sơn màu hồng, ở Mộc Sơn màu trắng, ở Hỏa Sơn màu đỏ, ở Kim Sơn màu thủy mặc và ở Thổ Sơn màu nâu.

Cảnh quan gắn kết nổi bật với Ngũ Hành Sơn về phía đông là biển Đông, một không gian mênh mông chạy từ bãi cát trắng mịn dọc ven biển cho tới vùng ngoài khơi quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Phía tây và nam Ngũ Hành Sơn là con sông Cổ Cò nổi tiếng từ xưa, nối sông Cẩm Lệ thông vào cửa Đại ở Hội An, dài chừng 27km. Sông Cổ Cò có tên chữ là Lộ Cảnh Giang, còn tên nôm là Cổ Cò, vì hình dáng con sông uốn lượn giống cổ con cò. Đoạn sông Cổ Cò chảy qua giữa phường Hòa Hải về phía tây nam được dân địa phương gọi là sông Bãi Dài; đoạn sông nằm ở đầu phường Hòa Hải về phía tây bắc được ví là bụng cò, dân gian gọi là sông Ba Chà. Trên đất Đà Nẵng ngày nay, sông Cổ Cò chạy từ Đập Quan qua các vùng Sơn Thủy, Đông Hải, Tân Trà, An Nông thuộc hai phường Hòa Hải, Hòa Quý quận Ngũ Hành Sơn, dài khoảng 13km, rộng chừng 200m và độ sâu trung bình gần 3m. Trong các thế kỷ XVII, XVIII, khi Đà Nẵng chỉ mới giữ vai trò tiền cảng, đây là đường thủy thông thương huyết mạch giữa Đà Nẵng với Hội An, tàu thuyền nước ngoài thường xuyên ra vào Hội An mua bán theo đường sông này. Từ thế kỷ XIX, sông bị bồi lấp dần, đến nay chỉ còn từng đoạn. Con sông này rất quan trọng đối với môi trường sinh thái của quận Ngũ Hành Sơn, đồng thời cũng phục vụ đắc lực cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp, du lịch trên địa bàn. Hiện nay, mỗi khi Lễ hội Quán Thế Âm ở Ngũ Hành Sơn diễn ra vào 19 tháng Hai Âm lịch hàng năm, trên sông Cổ Cò thường có hội hoa đăng, hội múa rồng, múa lân2.

Dấu tích của con người ở Ngũ Hành Sơn có từ rất sớm, thể hiện qua các di chỉ thuộc văn hóa Sa Huỳnh. Đây cũng là nơi người Chăm thờ cúng thần linh của mình trong nhiều thế kỷ. Trên dãy Hỏa Sơn, vẫn còn lại những đống gạch đá sụp lở là di tích đền tháp của người Chăm. Thổ Sơn được xem là linh địa của người Chăm, với những mảng phù điêu trên đá còn lưu lại. Sự chuyển giao hòa bình giữa hai vương triều là nền tảng đảm bảo cho các công trình văn hóa Champa trên Ngũ Hành Sơn được người Việt tiếp thu và tiếp tục duy trì. Tương truyền vào thời Lê sơ, vua Lê Thánh Tông (trị vì từ 1460 đến 1497) đã khám phá ra Ngũ Hành Sơn. Việc thờ cúng thần linh của người Chăm đã được người Việt tiếp nối bằng việc tu học và thờ cúng của Phật giáo qua những ngôi chùa do họ lập nên, tiêu biểu như chùa Thái Bình và Vân Long.

Thời các chúa Nguyễn, Phật giáo rất thịnh hành ở xứ Đàng Trong. Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613 - 1635) đã từng đóng góp lập các chùa Long Hưng, Bửu Châu ở Quảng Nam. Chùa Tam Thai tại ngọn Thủy Sơn xây dựng năm 1630, nay còn tấm biển bằng đồng ghi bút tích của vua Minh Mạng, là một trong những ngôi chùa xưa ở Đà Nẵng. Bia Phổ Đà sơn linh trung Phật tại động Hoa Nghiêm (1640) và bia Ngũ Uẩn Sơn cổ tích Phật tịch diệt lạc tại động Vân Thông (1641) là các bia đá do Thiền sư Huệ Đạo Minh dựng lập, để tán thán công đức của tín đồ Phật tử người Việt, người Nhật và người Hoa đã cúng dường xây dựng chùa. Chùa Bình An xây dựng trước đó cũng được trùng tu vào năm 1640. Thời Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), chúa rất mộ đạo nên mời Hòa thượng Thạch Liêm (Thích Đại Sán) từ Trung Hoa sang Thuận - Quảng hộ trì Phật giáo, Ngài cũng từng đến Ngũ Hành Sơn. Với lòng mộ đạo, có lúc cả ngàn tín đồ Phật tử đến chùa Thái Bình ở Ngũ Hành Sơn nghe Nam Đại Hòa thượng giảng kinh. Hòa thượng Hưng Liên trụ trì chùa Tam Thai, truyền bá Thiền Tào Động, được chúa Nguyễn Phúc Chu tôn phong Quốc sư.

Thời nhà Nguyễn, Ngũ Hành Sơn rất được các vua triều Nguyễn quan tâm và ngưỡng mộ. Tương truyền trước kia chúa Nguyễn có lần thất trận với quân Tây Sơn ở Quảng Nam, đã vào ẩn trốn ở Ngũ Hành Sơn và nhờ một vị tiên xuất hiện chỉ đường nên thoát nạn, quân sĩ khỏi bị đói. Vì thế sau khi lên ngôi hoàng đế, vua Gia Long mới bày tỏ sự tri ân. Công chúa Ngọc Lan con vua Gia Long cũng đã đến ẩn tu tại Phổ Đà Sơn. Vua Minh Mạng nhiều lần đến thưởng ngoạn vẻ đẹp thiên nhiên và lưu lại dài ngày nơi cảnh Phật, nhiệt tâm ủng hộ và góp công lớn để tôn tạo Ngũ Hành Sơn có quy mô bề thế, để lại nhiều công trình kiến trúc giá trị. Năm 1825, vua Minh Mạng đến thăm Ngũ Hành Sơn, quyết định đặt lại các danh xưng, cho khắc tên trên thềm và sườn núi đồng thời tiến hành tu sửa chùa Tam Thai và xây dựng chùa Ứng Chân, gọi là Ứng Chân Tự (đến đời vua Thành Thái đổi tên thành Linh Ứng Tự). Chùa Linh Ứng thờ Tam Thế Phật, chính giữa Phật Thích Ca, bên phải Di Lặc, bên trái Di Đà; có tượng lớn Đức Quán Thế Âm Bồ Tát (năm 1970 các tăng ni, Phật tử Quảng Nam - Đà Nẵng xây lại chùa mới). Năm 1826, nhà vua cho đúc 9 pho tượng và 3 quả chuông lớn ở chùa Tam Thai, hiện chùa còn lưu giữ "quả tim lửa" và chiếc chuông khắc tên vua Minh Mạng. Các chùa Tam Thai, Linh Ứng cũng đã được sắc ban là Quốc tự.

Qua nhiều giai đoạn lịch sử, ở Ngũ Hành Sơn có khoảng 13 ngôi chùa Phật giáo được xây dựng. Các chùa tại Ngũ Hành Sơn thường phối thờ nhiều vị thần khác nhau. Ví dụ ở chùa Từ Tâm thờ Địa Tạng lại có bàn thờ tưởng nhớ các triều đại Đinh, Lý, Trần, Lê và cả bàn thờ cho các linh hồn lạc lõng không ai thờ cúng, không nơi nương tựa. Nhiều ngôi chùa ở Ngũ Hành Sơn lưu giữ những hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa, tôn giáo quý giá. Nơi đây, khung cảnh thiên nhiên hữu tình, có hang động, núi đá đã làm cho chùa tăng thêm vẻ thâm nghiêm.

Hang động ở Ngũ Hành Sơn có cảnh sắc kỳ lạ, khi ánh nắng mặt trời len qua các ngách đá tạo sự lấp lánh trên thạch nhũ với vô số hình hài khác nhau. Ở động Quán Thế Âm, nhiều thạch nhũ tạo ra những tượng Phật rất độc đáo, có khối thạch nhũ tạo thành tượng Quán Thế Âm Bồ Tát thanh tú. Ngài được tạo thành từ một lớp da đá như dải lụa kim tuyến phủ từ bờ vai phải chạy đến hết thân tượng, tay phải nâng bình nước cam lồ. Trong động Quán Thế Âm còn có bộ tam khí nhà Phật gồm chuông, trống, mõ bằng đá, đánh phát ra âm thanh. Cuối động là hồ nước mát lạnh, trong suốt quanh năm tựa hồ nước cam lồ. Động Tàng Chơn sau chùa Linh Ứng thông lên trời qua cửa Thiên Long Cốc, có hai cửa hang gọi là Vân Nguyệt Cốc (hang của mây và trăng) và động Vân Thông (động thông với mây). Thiên Long Cốc (hang của rồng và trời) có miếu thờ Thái Thượng Lão Quân, bên trái thờ Bát bộ Kim Cương, bên phải là tượng thần của người Chăm. Âm Phủ huyệt nằm ở phía nam Thủy Sơn, thiếu ánh sáng mặt trời, càng sâu càng tối, thông ra tới biển,nên có tên là Âm Phủ. Động Huyền Không đi qua cổng vòm Huyền Không Quan, cửa hơi hẹp, động tối, những bậc đi xuống sâu, giữ cửa động có hai tượng ông Thiện và ông Ác. Trong hang có ánh sáng từ trên cao chiếu qua lỗ trống trên động, càng tăng sự lung linh huyền bí. Vòm động cao, nhũ thạch bám vào vách với nhiều đường nét thiên nhiên, cộng với bàn tay con người tạo thêm nhiều hình ảnh như tượng Phật Quán Thế Âm trên bệ thờ, thạch nhũ nhỏ nước tí tách, dưới nền có khối đá điêu khắc tượng của người Chăm, trên bàn thờ có tượng Thiên - Y - A - Na (Bà Chúa Ngọc). Ngoài ra còn các động nhỏ hơn như Tam Thanh (Thanh Thanh Tiên động - động của ba người bất tử Thượng Thanh, Thái Thanh, Ngọc Thanh), hang Gió - còn gọi là Hang Thần Thượng (hang của các Thần bề trên), động Chiêm Thành (Champa), động Bàn Cờ, hang Ráy... cũng mang đầy vẻ thâm nghiêm.

Nhìn toàn cảnh, Ngũ Hành Sơn như một vọng hải đài ở Đà Nẵng nhìn ra biển Đông đầy vẻ chiêm nghiệm, khi trên ngọn núi Ngũ Hành vẫn luôn chứa đầy hơi thở của thế giới văn hóa tâm linh trải suốt cả ngàn năm, từ văn hóa tâm linh Chăm qua văn hóa tâm linh Việt.

Ngày nay, dù tọa lạc giữa lòng thành phố, Ngũ Hành Sơn vẫn là một vùng thắng cảnh sinh thái tự nhiên đan xen đời sống văn hóa tâm linh một cách hài hòa; tồn tại trong lòng đô thị hiện đại nhưng không tạo sự lạc điệu và mất đi giá trị cảnh quan và văn hóa tâm linh. Sự xác lập và gắn bó lâu đời, sâu sắc, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử của Phật giáo và các tín ngưỡng tâm linh truyền thống của cư dân bản địa, đã biến Ngũ Hành Sơn thành một mảnh đất thiêng, núi thiêng thấm đượm tinh thần giải thoát.

Chính yếu tố văn hóa tâm linh được xác lập vững chắc trong một cảnh quan thiên nhiên hòa điệu đã khiến Ngũ Hành Sơn không chỉ như một thắng cảnh dành cho khách thập phương đến thưởng ngoạn di tích lịch sử - văn hóa, vẻ đẹp thiên nhiên, hít thở không khí trong lành của khu sinh thái; mà còn là nơi linh địa, tôn thờ các vị tiên nhân, Phật thánh cứu nhân độ thế ngót cả ngàn năm, nơi dành cho các bậc chân tu tu tập, tham thiền nhập định để cầu phúc cho dân và bản thân được siêu thoát, nơi để cho người trần tục tạm quên những vướng bận đời thường để hướng đến sự tịnh tâm thanh thản, chiêm nghiệm cho mình sự giải thoát trong thế giới tâm linh.

Với bề dày và những giá trị văn hóa - lịch sử đã tạo dựng cả ngàn năm, thiết nghĩ việc đẩy mạnh đầu tư chăm sóc, trùng tu, tôn tạo, phát triển Ngũ Hành Sơn thành một trung tâm văn hóa tâm linh, lễ hội và du lịch quy mô lớn là hết sức cần thiết. Đó không chỉ là sự thừa nhận khách quan chiều dài lịch sử của vùng đất, của cảnh quan thiên nhiên, mà còn là sự công nhận dấu ấn lịch sử Chăm-Việt và những giá trị văn hóa tinh thần cao cả đã sản sinh trên vùng đất này3.

Trung Quốc có “Tứ Đại Phật Sơn” nổi tiếng là Ngũ Đài Sơn, Nga Mi Sơn, Cửu Hoa Sơn, Phổ Đà Sơn tập trung rất nhiều chùa, khiến cho không chỉ tăng đồ, mà du khách trong và ngoài nước cũng luôn nườm nượp tìm đến vãn cảnh, du lịch. Trong đó Phổ Đà Sơn nổi tiếng về sự linh ứng của Quán Thế Âm Bồ Tát như Ngũ Hành Sơn ở Việt Nam. Các địa phương ở Trung Quốc có Tứ Đại Phật Sơn nhờ thế trở nên sầm uất và kinh tế-xã hội phát triển đi lên rất rõ.

Vậy Ngũ Hành Sơn với bề dày lịch sử, cảnh quan và văn hóa tâm linh hun đúc cả ngàn năm, là sự giao thoa, tiếp biến 2 nền văn hóa Chăm - Việt. Với truyền thống Phật giáo và các tín ngưỡng địa phương đã xác lập trong một không gian đặc thù qua hàng chục công trình chùa tháp, hang động, Lễ hội Quán Thế Âm được duy trì vào 19-2 âm lịch hằng năm... thừa sức để biến Ngũ Hành Sơn trở thành một “Đại Phật Sơn” ở Việt Nam trong thực tế!

Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới và hội nhập, cảnh quan thiên nhiên, bề dày lịch sử, văn hóa tinh thần nói chung, văn hóa tâm linh nói riêng giữ vai trò động lực phát triển không kém phần quan trọng. Vì thế, cần tiếp tục quy hoạch và có những giải pháp phù hợp để phát huy thế mạnh lịch sử, cảnh quan thiên nhiên và văn hóa tâm linh của Ngũ Hành Sơn. Qua đó, góp phần tạo sự thăng bằng trong tổng thể cảnh quan đô thị Đà Nẵng, sự hài hòa trong cuộc sống và sinh hoạt xã hội, thu hút khách thập phương và khai thác được thế mạnh du lịch văn hóa. Việc cộng hưởng các yếu tố văn hóa - lịch sử, cảnh quan, tâm linh sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở quận Ngũ Hành Sơn và thành phố Đà Nẵng.

 N.Q.T.T

1 Tham khảo từ Nguyễn Quang Trung Tiến, “Ngũ Hành Sơn, những giá trị văn hóa tâm linh”, Tọa đàm Khoa học Ngũ Hành Sơn - Một vùng văn hóa, lịch sử, Hội Khoa học Lịch sử thành phố Đà Nẵng, Ủy ban nhân dân quận Ngũ Hành Sơn và Tạp chí Văn hóa Quân sự tại Đà Nẵng tổ chức ngày 11 và 12/3/2009.

2 Tham khảo từ Nguyễn Quang Trung Tiến, “Sóng nước Đà giang”, Báo Đà Nẵng cuối tuần, ngày 06/3/2010.

3 Tham khảo từ Nguyễn Quang Trung Tiến, “Gìn giữ khí thiêng Ngũ Hành Sơn”, Báo Đà Nẵng cuối tuần, ngày 26/4/2009.

 

 
 CÁC BÀI KHÁC
- Trụ sở: K54/10 Ông Ích Khiêm, thành phố Đà Nẵng
- ĐT: 0511.2211823, Fax: 0511.3519300
- Email: tapchinonnuoc@gmail.com