CÁC SỐ KHÁC
   + Số 257(Tháng 7/2019)
   + Số 256 (Tháng 6/2019)
   + Số 255 (Tháng 5/2019)
   + Số 254 (Tháng 4/2019)
   + Số 253 (Tháng 3/2019)
   + Số 252 (Tháng 1+2/2019)
   + Số 251 (Tháng 12/2018)
   + Số 250 (Tháng 11/2018)
   + Số 249 (Tháng 10/2018)
   + Số 248 (Tháng 9/2018)
   + Số 247 (Tháng 8/2018)
   + Số 246 (Tháng 7/2018)
   + Số 245 (Tháng 6/2018)
   + Số 244 (Tháng 5/2018)
   + Số 243 (Tháng 4/2018)
   + Số 242 (Tháng 3/2018)
   + Số 241 (Tháng 1+2 /2018)
   + Số 240 (Tháng 12/2017)
   + Số 239(Tháng 11/2017)
   + Số 238 (Tháng 10/2017)
   + Số 237 (Tháng 9/2017)
   + Số 236 (Tháng 8/2017)
   + Số 235 (Tháng 7/2017)
   + Số 234 (Tháng 6/2017)
   + Số 233 (Tháng 5/2017)
   + Số 232 (Tháng 4/ 2017)
   + Số 231 (Tháng 3/ 2017)
   + Số 230 (Tháng 1+2/ 2017)
   + Số 229 (Tháng 12/ 2016)
   + Số 228 (Tháng 11/ 2016)
   + Số 227 (Tháng 10/ 2016)
   + Số 226 (Tháng 9/2016)
   + Số 225 ( Tháng 8/2016)
   + Số 224 (Tháng 7 - 2016)
   + Số 223 (Tháng 6/2016)
   + Số 222 (Tháng 5/2016)
   + Số 221 (tháng 4/2016)
   + Số 220 (tháng 3/2016)
   + Số 218 + 219 (Xuân Bính Thân)
   + Số 217 (tháng 12/ 2015)
   + Số 216 (Tháng 11/ 2015)
   + Số 215 (Tháng 10/ 2015)
   + Số 214 (Tháng 9/ 2015))
   + Số 213 (Tháng 8/ 2015)
   + Số 212 (Tháng 7/ 2015)
   + Số 211 (Tháng 6/ 2015)
   + Số 210 (Tháng 5/ 2015)
   + Số 209 (Tháng 4/ 2015)
   + Số 208 (Tháng 3/ 2015)
   + số 206 + 207 (số Xuân Ất Mùi 2015)
   + Số 205 (Tháng 12/ 2014)
   + Số 204 (Tháng 11/ 2014)
   + Số 203 (Tháng 10/ 2014)
   + Số 201 + 202 (Tháng 8,9/ 2014)
   + Số 200 (Tháng 7/ 2014)
   + Số 199 (Tháng 6/ 2014)
   + Số 198 ((Tháng 5/ 2014)
   + Số 197 (Tháng 4/ 2014)
   + Số 196 (Tháng 3/ 2014)
   + Số 194 + 195 (Xuân Giáp Ngọ 2014)
   + Số 193 (Tháng 12/ 2013)
   + Số 192 (Tháng 11/ 2013)
   + Số 191 (Tháng 10/ 2013)
   + Số 190 (Tháng 9/ 2013)
   + Số 189 (Tháng 8/ 2013)
   + Số 188 (Tháng 7/ 2013)
   + Số 187 (Tháng 6/ 2013)
   + Số 186 (Tháng 5/ 2013)
   + Số 185 (Tháng 4/ 2013)
   + Số 184 (Tháng 3/ 2013)
   + Số 183 (Xuân Quý Tỵ/ 2013)
   + Số 182 (Tháng 12/ 2012)
   + Số 181 (Tháng 11/ 2012)
   + Số 180 (Tháng 10/ 2012)
   + Số 179 (Tháng 8,9/ 2012)
   + Số 178 (Tháng 7/ 2012)
   + Số 177 (Tháng 6/ 2012)
   + Số 176 (Tháng 5/ 2012)
   + Số 175 (Tháng 4/ 2012)
   + Số 174 (Tháng 2,3/ 2012)
   + Số172 +173 (Xuân Nhâm Thìn 2012)
   + Số 171 (Tháng 11/ 2011)
   + Số 170 (Tháng 10/ 2011)
   + Số 169 (Tháng 8,9/ 2011)
   + Số 168 (Tháng 7/ 2011)
   + Số 167 (Tháng 6/ 2011)
   + Số 166 (Tháng 5/ 2011)
   + Số 165 (Tháng 4/ 2011)
   + Số 164 (Tháng 3/ 2011)
   + Số163 Xuân Tân Mão 2011
   + Số 162 (Tháng 12/ 2010)
   + Số 161 (Tháng 10,11/ 2010)
   + Số 160 (Tháng 9/ 2010)
   + Số 159 (Tháng 7/ 2010)
   + Số 158 (Tháng 6/ 2010)
   + Số 157 (Tháng 5/ 2010)
   + Số 156 (Tháng 4/ 2010)
   + Số 155 (Tháng 3/ 2010)
   + Số 153-154 Xuân Canh Dần 2010
   + Số 152 (Tháng 12/ 2009)
   + Số 151 (Tháng 11/ 2009)
   + Số 150 (Tháng 10/ 2009)
   + Số 149 (Tháng 8,9/ 2009)
   + Số 148 (Tháng 7/ 2009)
   + Số 147 (Tháng 6/ 2009)
   + Số 146 (Tháng 5/ 2009)
   + Số 145 (Tháng 4/ 2009)
   + Số 143 (Tháng 3/ 2009)
   + Số 141-142 Xuân Kỷ Sửu 2009
   + Số 139-140 (Tháng 11,12/ 2008)
   + Số 138 (Tháng 10/ 2008)
   + Số 137 (Tháng 9/ 2008)
   + Số 136 ( (Tháng 8/ 2008)
 
Số 230 (Tháng 1+2/ 2017)
 
Họa sĩ Nguyễn Hữu Đức: Cảm xúc và tình yêu chưa đủ, vấn đề là cách diễn đạt - Như Hạnh

BBT: Họa sĩ Nguyễn Hữu Đức, sinh ngày 20/4/1991, quê quán tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam; hiện ở tại số 103, đường Cách Mạng Tháng Tám, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

Nguyễn Hữu Đức tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Huế năm 2014. Đã tham gia một số triển lãm sau: Tham gia triển lãm ngày truyền thống sinh viên 8/1 từ năm 2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014; Triển lãm tranh cổ động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ chí Minh năm 2012; Triển lãm Festival mỹ thuật trẻ năm 2014; Triển lãm khu vực miền Trung - Tây Nguyên và Triển lãm toàn quốc năm 2015, 2016; Triển lãm văn hóa Hàn Quốc dưới con mắt họa sĩ Việt Nam năm 2015...

Nguyễn Hữu Đức là một họa sĩ trẻ đam mê vẽ tranh theo phong cách “cực thực”, nghĩa là vẽ giống như hiện thực vốn có. Nhân dịp đầu xuân mới, tạp chí Non Nước có buổi trao đổi với họa sĩ.

 

* Qua loạt tranh vẽ về Hội An, về Gốm, về Hoa súng... điều dễ nhận thấy là tranh Nguyễn Hữu Đức vẽ giống như thật, thật như chụp ảnh. Cách vẽ này quá khó phải không?

Hội họa có rất nhiều trường phái khác nhau, mỗi người mỗi chí hướng mỗi cách nhìn sự vật khác nhau, riêng tôi, tranh phải thực sự là tinh hoa, phải có độ tỉ mỉ nhất định. Khi xem tranh phải có cảm xúc nhất định nào đó, không phải thời kỳ phục hưng mà ngay thời kỳ bây giờ nhiều họa sĩ thế giới vẽ rất kỹ rất thật cho người xem cảm giác như là ảnh chụp, gọi là trường phái tranh cực thực.

Vẽ tranh cực thực, đòi hỏi họa sĩ phải tổng hợp rất nhiều yếu tố về bố cục, hình, màu sắc, và biểu cảm của tranh.

- Về bố cục họa sĩ phải sắp xếp sao cho dễ nhìn không rời rạc mà phải thống nhất có chính phụ trong tranh.

- Hình là một yếu tố rất khó trong vẽ tranh cực thực, phải chuẩn tuyệt đối, chi tiết rõ ràng thì khi lên màu mới không bị mất hình) vẽ tranh cực thực dựng hình mất ít nhất vài ngày đến vài tuần thì mới chuẩn.

- Và cung rất trọng đó là màu sắc, họa sĩ vẽ tư duy sao cho khi lên tranh màu nó như thật, phần này phải nói là cực khó đòi hỏi phải có nhiều năm kinh nghiệm mới xử lý màu trong tranh một cách ngọt ngào được, nếu không vững khi lên tranh sẽ bị lầy và bẩn không trong trẻo được.

- Và cái cuối cùng là đem lại cảm xúc cho người xem, người xem sẽ có cảm giác nhất định khi xem tranh, phản ứng thị giác.

Nếu đạt được tất cả các yếu tố trên thì tác phẩm ra đời sẽ rất tuyệt.

* Có một số người cho rằng, trong thời đại công nghệ hiện nay nếu vẽ tranh như thật nó vốn có, vẽ như ảnh chụp, thì vẽ làm chi cho mệt. Chụp bức ảnh sẽ nhanh hơn, đỡ tốn sức hơn. Ý của họa sĩ như thế nào?

 Đây là câu hỏi hóc búa nhất cho ngành hội họa từ khi chiếc máy ảnh ra đời. Những người làm khoa học ngạo nghễ: "Hội họa đã hết việc làm rồi". Có lẽ họ, và cả công chúng đã hiểu sai về chức năng của hội họa. Các họa sĩ đã vào cuộc ngay và cho ra đời chủ nghĩa Hiện thực ảnh (photorealism) rồi sau đó là Cực thực (hyperealism), là chỉ chép nguyên si một bức ảnh bằng sơn dầu, để chứng minh "hội họa còn kỹ hơn cả nhiếp ảnh". Phong cách này đã được công chúng vô cùng thích thú và còn được phát triển mạnh cho tới ngày nay. Chức năng nhiếp ảnh là ghi lại hình ảnh ta nhìn thấy bằng mắt lên một chất liệu khác, như giấy chẳng hạn, thông qua máy móc. Nhưng hội họa là làm bằng tay, với bút và sơn. Làm bằng tay  khác xa làm bằng máy chính ưu điểm và cả nhược điểm của nó. Vì nó có sự truyền trực tiếp từ não bộ, trái tim ra tay, do đó xem tranh vẽ là có thể thấy được con người trong đó. Cái hay, cái dở, cái giỏi, cái kém đều bộc lộ ra hết. Nghĩa là người xem đã đối thoại được với nghệ sĩ rồi. Còn chụp ảnh thì khó đoán định. Nếu chỉ cần hai người cùng bấm máy chụp ở một vị trí cố định thì không thể đoán ra ai là tác giả từng bức ảnh, nhưng hội họa thì có đấy. Chúng ta hãy thử nghĩ xem tại sao người ta vẫn mua các poster vẽ tay mà không mua bản in. Vì họ muốn trò chuyện với tác giả.

* Nghĩa là cái "thực" của hội họa khác với cái "thực" trong nhiếp ảnh?

 Ví dụ khi xem một bức tranh tả thực, người ta có thể có cảm nhận một con đường ướt át, bức tường bở hay một không gian có chiều sâu vài mét đến vô tận. Tranh còn có cảm giác yêu thích hay khó chịu, tác động tới cả sinh lý như dễ thở, thậm chí là buồn nôn. Có ai có cảm giác đó với một bức ảnh không nhỉ? Tôi nghĩ khó. Ảnh là gián tiếp, tranh là trực tiếp. Tuy nhiên, vẽ như ảnh không dễ. Đằng sau việc chép ảnh là hàng mớ lý thuyết màu sắc, kỹ thuật và chất liệu thể hiện và nó rất lâu công, mất hàng tuần lễ. Các họa sĩ "cường thực" đôi khi chỉ cần thấy người xem nhầm tranh là ảnh là có thể gặm nhấm hạnh phúc được rồi, vì đó là cái đích của họ hướng tới.

 Điều gây ra cảm xúc mạnh trong lối vẽ hiện thực, hay bất cứ lối vẽ nào rất đơn giản là người họa sĩ phải có cảm xúc thật. Phong cách chỉ là công cụ truyền tải mà thôi. Tuy nhiên, cảm xúc và tình yêu chưa đủ, vấn đề là cách diễn đạt. Để có được sự gây áp chế người xem trong sáng tác, họa sĩ phải song hành hai thứ: duy trì cảm xúc và kỹ thuật điêu luyện. Kỹ thuật giúp cảm xúc được bộc lộ dễ dàng. Nên không gì hơn là hãy học vẽ nghiêm túc đi.

* Theo dõi hội họa nước ta thời gian gần đây tôi thấy phần đông các họa sĩ chọn kiểu thể hiện như là... siêu thực, ít thấy họa sĩ có xu hướng vẽ “cực thực” (vẽ giống như thực)?

Vị trí địa lý sinh ra con người có những năng khiếu khác nhau. Khi hội họa Châu Âu đã đạt đến đỉnh cao về diễn tả thì khu vực châu Á, hội họa chỉ là hình vẽ bằng nét với không gian ước lệ. Người Phương Đông nói chung khéo tay, giỏi trang trí nhưng yếu về tả chất và không gian. Việt Nam không phải là ngoại lệ. Người Pháp khi đặt nền móng cho hội họa Việt Nam thì lại dựa vào đặc tính đó để tạo dựng nên một nền mỹ thuật, nặng tính trang trí, do đó hiện thực chưa bao giờ là môn học chính thức, trừ môn hình họa. Hình họa hiện nay đã bị cắt đi một nửa thời lượng, chứng tỏ mục đích đào tạo đã ngày càng xa hiện thực.  Khi ra trường, chỉ có ít người do sở thích mà theo đuổi. Nói chính xác, thực ra không có e ngại mà chỉ là né tránh. Vẽ hiện thực rất khó vì những quy tắc bài bản của nó nên không mấy người chọn. Hội họa thì vô cùng, mấy ai thích chọn đường khó. Mà  đã ít người thì làm sao có thể xảy ra một trào lưu hay xu hướng.

* Họa sĩ trao đổi thêm đôi nét những quan niệm, suy nghĩ về tranh tả thực được thể hiện trong tranh của mình?

 Tả thực đã có nhiều cách vẽ khác nhau, ví dụ vẽ ướt trên ướt, vẽ láng nhiều lớp, vẽ đắp phụ gia hoặc chọn chất liệu khác nhau như sơn dầu, acrylic, màu nước... Bản thân sự lựa chọn một chất liệu và phong cách đã bộc lộ cá tính. Ngoài ra là bút pháp, kỹ thuật riêng hay khả năng cảm nhận về màu sắc, hoặc sự lựa chọn đề tài cũng đủ cho mỗi người có một khoảng trời riêng. Hơn nữa, trong nghệ thuật, sự bay bổng, chất thơ cũng chỉ là một tiêu chí, không nhất thiết phải có.  Ví dụ chủ nghĩa lãng mạn (thế kỷ 19) chẳng hạn, nó ra đời với tiêu chí nghệ thuật phải có tâm trạng, phải có gió mưa bão táp... Nó chống lại cái chủ nghĩa hiện thực do Courbe sáng lập là chỉ vẽ những gì gọi là thực tế. Rút cục chúng đều là hiện thực và đều tồn tại song song, chẳng chủ nghĩa nào thắng. Còn khán giả thì được no nê thưởng thức các kiệt tác. Vậy thì cái gọi là sự bay bổng thăng hoa nó cũng không phụ thuộc nhiều vào phong cách lắm.

Tôi chọn hiện thực cũng vì cái tạng của mình là ưa tìm tòi, thích phân tích, lý giải các hiện tượng và được trời cho cái khả năng vẽ hình. Tuy nhiên, tôi quan niệm: đã là sáng tác thì không nên giống ai, mà hiện thực lại là một khe cửa hẹp, nên  tôi đã chọn một lối hiện thực khác người. Tôi mê cổ điển vì sự chuẩn mực trong bố cục và diễn tả, tôi cũng mê ấn tượng với hòa sắc tự nhiên, có không khí, lại mê phong cách dã thú với bảng màu mạnh mẽ, chói chang. Tôi muốn "hiện thực" của tôi hội tụ đủ các thứ ấy. Về bút pháp, tôi kết hợp cả cổ điển, biểu hiện và cả... trừu tượng. Đó chính là cái riêng, không lẫn với họa sĩ hiện thực khác.Tôi cũng không ngờ tranh vẽ tả thực của tôi lại được công chúng đón nhận như vậy. Ai cũng thấy được sự quen thuộc, thân thương hoặc nhớ lại kỷ niệm. Phải chăng chỉ có phong cách hiện thực mới chuyển tải được điều đó, vì người ta chỉ có thể có cảm giác sờ được, nghe được, thậm chí là ngửi được cuộc sống trong hội họa hiện thực mà thôi.

 Không phải cứ hiện thực là gò ép, đó chỉ là người vẽ chưa giỏi.  Vẽ hiện thực mà vẫn thấy bút lực ào ào thì không gì tuyệt hơn. Ngoài ra, nếu định nghĩa nghệ thuật như là công cụ để thức tỉnh nội tâm thì hiện thực lại là một lợi thế cực kỳ vượt trội.

* Cám ơn họa sĩ Hữu Đức đã cùng chúng tôi có buổi trao đổi rất thú vị này.

N.H 

 
 CÁC BÀI KHÁC
- Trụ sở: K54/10 Ông Ích Khiêm, thành phố Đà Nẵng
- ĐT: 0511.2211823, Fax: 0511.3519300
- Email: tapchinonnuoc@gmail.com