Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành trung tâm sáng tạo và trình diễn Nghệ thuật Tuồng của khu vực miền trung

10.08.2026
Nguyễn Nho Khiêm
Tọa đàm khoa học chủ đề “Nghệ thuật Tuồng trong đời sống đương đại khu vực miền Trung - Thực trạng và giải pháp” do Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội tổ chức sáng 8/10/2026, thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu, nhà quản lý văn hóa, cùng các nghệ sĩ tham dự. Văn nghệ Đà Nẵng trân trọng giới thiệu đến bạn đọc bài viết "Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành trung tâm sáng tạo và trình diễn Nghệ thuật Tuồng của khu vực miền trung" của Nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm - Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng.

Xây dựng thành phố Đà Nẵng  trở thành trung tâm sáng tạo và trình diễn  Nghệ thuật Tuồng của khu vực miền trung

Nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm - Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuậ thành phố Đà Nẵng trình bày tham luận tại tọa đàm.

Trong kho tàng sân khấu truyền thống Việt Nam, Tuồng là loại hình nghệ thuật đặc sắc, kết tinh nhiều giá trị về văn học, âm nhạc, mỹ thuật, vũ đạo, hóa trang và tư tưởng thẩm mỹ dân tộc. Với miền Trung, Tuồng không chỉ là một loại hình biểu diễn, mà còn là một phần ký ức văn hóa, gắn với sân đình, lễ hội, tiếng trống chầu và đời sống tinh thần của cộng đồng qua nhiều thế hệ.

Tuy nhiên, trong bối cảnh đô thị hóa, toàn cầu hóa và truyền thông số phát triển mạnh mẽ, nghệ thuật Tuồng đang đứng trước nhiều thách thức: không gian diễn xướng thu hẹp, khán giả giảm sút, lực lượng kế cận thiếu hụt, trong khi các loại hình giải trí hiện đại tạo sức cạnh tranh rất lớn. Nếu chỉ bảo tồn theo lối cũ, Tuồng có nguy cơ ngày càng xa đời sống đương đại.

Vấn đề đặt ra hôm nay không chỉ là “giữ” Tuồng, mà phải tìm cho Tuồng một môi trường sống mới. Bảo tồn chỉ có ý nghĩa khi di sản tiếp tục có công chúng, có tác phẩm, có người truyền nghề, có không gian biểu diễn và có khả năng tạo ra giá trị mới. Chính vì vậy, cần chuyển từ tư duy bảo tồn đơn lẻ sang tư duy phát triển, đặt Tuồng trong chiến lược văn hóa đô thị, du lịch văn hóa và công nghiệp sáng tạo.

Đà Nẵng, với vị thế là đô thị trung tâm của miền Trung, có nhiều điều kiện để đảm nhận vai trò đầu mối sáng tạo, trình diễn, nghiên cứu, đào tạo và quảng bá nghệ thuật Tuồng trong khu vực. Từ nền tảng văn hóa Quảng Nam - Đà Nẵng, từ hạ tầng đô thị, từ thị trường du lịch rộng lớn và định hướng phát triển công nghiệp văn hóa, thành phố có thể xây dựng một mô hình mới: “Đà Nẵng - Thành phố Tuồng miền Trung”.

ĐÀ NẴNG VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐỂ TRỞ THÀNH TRUNG TÂM TUỒNG CỦA MIỀN TRUNG

Xét trên bình diện lịch sử - văn hóa, thành phố Đà Nẵng ngày nay là vùng đất có truyền thống Tuồng lâu đời. Tuồng từng hiện diện trong sinh hoạt làng xã, trong lễ hội, trong ký ức của nhiều thế hệ người dân xứ Quảng. Qua các tích tuồng, công chúng không chỉ thưởng thức nghệ thuật mà còn tiếp nhận những bài học về trung nghĩa, khí tiết, lòng yêu nước, nhân nghĩa và đạo lý làm người.

Không gian Quảng Nam - Đà Nẵng cũng là nơi sản sinh, nuôi dưỡng nhiều nghệ nhân, nghệ sĩ, soạn giả, nhà nghiên cứu có đóng góp cho nghệ thuật Tuồng Việt Nam. Từ truyền thống dân gian đến sân khấu chuyên nghiệp, Tuồng xứ Quảng đã hình thành một vốn nghề quý: kỹ thuật biểu diễn, hệ thống làn điệu, nghệ thuật hóa trang, vũ đạo, ngôn ngữ ước lệ và kinh nghiệm đào tạo diễn viên.

Tuy nhiên, truyền thống chỉ là nền tảng. Muốn trở thành trung tâm Tuồng trong giai đoạn hiện nay, Đà Nẵng cần phát huy các lợi thế mới.

  Trước hết, thành phố là đô thị trung tâm của miền Trung, giữ vai trò kết nối thuận lợi với Huế, Quảng Ngãi, Gia Lai (Khu vực Bình Định cũ) - những địa phương giàu truyền thống Tuồng. Vị trí này cho phép Đà Nẵng trở thành điểm gặp gỡ, giao lưu và liên kết các nguồn lực Tuồng trong khu vực.

Thứ hai, Đà Nẵng có hệ thống hạ tầng văn hóa tương đối đồng bộ, có thể tổ chức các hoạt động nghệ thuật quy mô lớn như liên hoan, hội thảo, tọa đàm, trình diễn ngoài trời, triển lãm, chương trình giao lưu quốc tế. Tuồng hôm nay không thể chỉ tồn tại trong nhà hát; nó cần bước ra trường học, bảo tàng, không gian công cộng, sự kiện du lịch và các nền tảng truyền thông mới.

Thứ ba, Đà Nẵng là trung tâm du lịch lớn của cả nước. Đây là nguồn công chúng tiềm năng mà nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống đang thiếu. Du khách đến Đà Nẵng không chỉ cần biển, núi, ẩm thực, nghỉ dưỡng, mà còn cần những trải nghiệm văn hóa có bản sắc. Với vẻ đẹp của mặt nạ, phục trang, âm nhạc, vũ đạo và tính biểu tượng cao, Tuồng hoàn toàn có thể trở thành một sản phẩm du lịch văn hóa đặc sắc nếu được tổ chức bài bản, có thuyết minh, phụ đề và trải nghiệm đi kèm.

Thứ tư, thành phố đang định hướng phát triển công nghiệp văn hóa và đô thị sáng tạo. Đây là môi trường thuận lợi để Tuồng tìm kiếm hình thức tồn tại mới: biểu diễn định kỳ, workshop trải nghiệm, số hóa tư liệu, video ngắn, sản phẩm lưu niệm, thiết kế mỹ thuật, hoạt hình, điện ảnh, giáo dục di sản và ngoại giao văn hóa. Những hình thức ấy không thay thế Tuồng truyền thống, mà mở thêm con đường để công chúng hôm nay bước vào thế giới của Tuồng.

Như vậy, Đà Nẵng có đủ bốn nhóm điều kiện quan trọng: nền tảng lịch sử - văn hóa; vị trí kết nối vùng; hạ tầng văn hóa - du lịch; và định hướng công nghiệp văn hóa, đô thị sáng tạo. Những điều kiện ấy không tự động tạo nên trung tâm Tuồng, nhưng là cơ sở để thành phố hoạch định một chiến lược phát triển Tuồng lâu dài, có bản sắc và có tính khả thi.

TỪ TƯ DUY “NHÀ HÁT TUỒNG” ĐẾN TƯ DUY “HỆ SINH THÁI TUỒNG”

Một hạn chế phổ biến hiện nay là chúng ta thường đồng nhất sự tồn tại của Tuồng với hoạt động của một nhà hát hoặc một đoàn nghệ thuật. Cách nghĩ ấy không sai, bởi nhà hát là thiết chế trung tâm, nơi quy tụ nghệ sĩ, tổ chức biểu diễn và giữ nghề. Nhưng nhà hát không thể một mình gánh toàn bộ số phận của một di sản.

Một loại hình nghệ thuật muốn phát triển bền vững phải được đặt trong một hệ sinh thái. Ở đó, Tuồng không chỉ là chuyện của nghệ sĩ Tuồng, mà còn là chuyện của nhà quản lý văn hóa, nhà nghiên cứu, nhà giáo dục, ngành du lịch, truyền thông, doanh nghiệp sáng tạo, trường học, cộng đồng và công chúng. Khi ấy, Tuồng không chỉ sống trên sân khấu, mà còn sống trong ký ức cộng đồng, trong trường học, trong bảo tàng, trong không gian du lịch và trong môi trường số.

Hệ sinh thái Tuồng có thể được hình dung qua năm thành tố cơ bản: sáng tác, đào tạo, biểu diễn, nghiên cứu và công chúng. Năm thành tố này gắn bó hữu cơ với nhau. Nếu thiếu một mắt xích, toàn bộ đời sống Tuồng sẽ bị suy yếu.

Trước hết là sáng tác. Không có sáng tác, sân khấu thiếu tác phẩm mới; thiếu tác phẩm mới, nghệ sĩ thiếu đất diễn; thiếu đất diễn, công chúng dễ xem Tuồng như nghệ thuật của quá khứ. Vì vậy, bên cạnh việc bảo tồn vở cổ, cần đặt hàng và khuyến khích sáng tác mới về lịch sử vùng đất, nhân vật văn hóa xứ Quảng, biển đảo, đô thị hiện đại và những vấn đề đạo lý hôm nay, nhưng phải được biểu đạt bằng thi pháp và ngôn ngữ riêng của Tuồng.

Thứ hai là đào tạo. Tuồng là nghệ thuật tổng hợp, đòi hỏi diễn viên khổ luyện về giọng hát, hình thể, vũ đạo, võ thuật, đài từ, hóa trang và quy phạm biểu diễn. Đào tạo không chỉ là đào tạo diễn viên chuyên nghiệp mà còn gồm bồi dưỡng nghệ sĩ đang làm nghề, truyền dạy trong cộng đồng, câu lạc bộ, trường học và giáo dục thẩm mỹ cho học sinh, sinh viên. Mô hình “Tuồng học đường” cần được xem là hướng đi lâu dài để gieo mầm công chúng tương lai.

Thứ ba là biểu diễn. Trong bối cảnh hiện nay, sân khấu không thể chỉ dựng vở rồi chờ khán giả đến rạp. Tuồng cần chủ động đi tìm công chúng bằng nhiều cấp độ: vở diễn hoàn chỉnh trong nhà hát; trích đoạn tinh hoa trong sự kiện văn hóa - du lịch; chương trình phục vụ học đường, cộng đồng; và các hình thức thử nghiệm có thuyết minh, phụ đề, giao lưu sau biểu diễn để giúp khán giả mới tiếp cận dễ hơn.

Thứ tư là nghiên cứu. Nếu thiếu nghiên cứu, việc bảo tồn dễ rơi vào cảm tính. Cần sưu tầm, hệ thống hóa tư liệu về Tuồng xứ Quảng; ghi chép ký ức nghệ nhân; lưu trữ kịch bản, làn điệu, hình ảnh, phục trang, đạo cụ, kỹ thuật hóa trang, vũ đạo; đồng thời nghiên cứu đặc trưng thẩm mỹ của Tuồng Quảng Nam - Đà Nẵng trong quan hệ với các vùng Tuồng khác ở miền Trung.

Thứ năm là công chúng. Công chúng không tự nhiên mà có; công chúng phải được hình thành, nuôi dưỡng và mở rộng. Nhiều người trẻ không phải không yêu nghệ thuật truyền thống, mà vì chưa có cơ hội tiếp cận đúng cách. Khi có thuyết minh, phụ đề, giao lưu với nghệ sĩ, trải nghiệm hóa trang, giới thiệu nhân vật, mặt nạ, làn điệu và quy ước sân khấu, khoảng cách giữa Tuồng và người xem sẽ được rút ngắn.

Năm thành tố ấy phải vận hành như một vòng tuần hoàn: sáng tác tạo tác phẩm cho biểu diễn; biểu diễn tạo môi trường cho nghệ sĩ và công chúng; công chúng phản hồi để kích thích sáng tạo; nghiên cứu cung cấp tri thức và tư liệu; đào tạo chuẩn bị lực lượng kế cận. Vì vậy, Đà Nẵng không nên dừng ở việc duy trì một đơn vị nghệ thuật Tuồng, mà phải hướng tới xây dựng một môi trường Tuồng, một hệ sinh thái Tuồng có khả năng tự tái tạo và lan tỏa.

 ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH “ĐÀ NẴNG - THÀNH PHỐ TUỒNG MIỀN TRUNG”

Từ những điều kiện đã nêu, Đà Nẵng có thể xây dựng mô hình “Đà Nẵng - Thành phố Tuồng miền Trung”. Đây không nên được hiểu là khẩu hiệu quảng bá, mà là một định hướng chiến lược: Tuồng không chỉ được bảo tồn trong nhà hát, không chỉ xuất hiện ở vài dịp lễ hội, mà trở thành một thành tố hiện diện thường xuyên trong đời sống văn hóa đô thị.

Mô hình này cần đặt trên ba trục: bảo tồn giá trị cốt lõi của Tuồng; mở rộng không gian tiếp nhận từ nhà hát ra trường học, bảo tàng, du lịch, không gian công cộng và nền tảng số; phát triển Tuồng như nguồn lực văn hóa của thành phố, gắn với giáo dục thẩm mỹ, du lịch văn hóa, công nghiệp sáng tạo, truyền thông và giao lưu quốc tế.

 Xây dựng không gian trình diễn Tuồng thường xuyên

Hiện nay, nhiều buổi biểu diễn Tuồng vẫn mang tính sự kiện. Cách tổ chức này cần thiết nhưng chưa đủ để tạo thói quen tiếp nhận cho công chúng. Một loại hình nghệ thuật chỉ thực sự sống khi người dân và du khách biết chắc rằng họ có thể tìm thấy nó ở một địa điểm, một khung giờ ổn định.

Đà Nẵng có thể xây dựng lịch diễn định kỳ vào cuối tuần, sau đó mở rộng thành các suất diễn hằng đêm trong mùa du lịch cao điểm. Chương trình không nhất thiết luôn là một vở dài, mà có thể thiết kế theo nhiều cấp độ: vở diễn hoàn chỉnh cho khán giả yêu sân khấu; trích đoạn tinh hoa cho du khách; chương trình thuyết minh cho học sinh; chương trình song ngữ cho khách quốc tế.

Một sản phẩm Tuồng dành cho du lịch có thể kéo dài 45-60 phút, gồm phần dẫn nhập, giới thiệu nhạc cụ - phục trang - mặt nạ, trình diễn trích đoạn tiêu biểu, giao lưu và trải nghiệm ngắn. Không gian trình diễn có thể là nhà hát, bảo tàng, công viên, quảng trường, phố đi bộ, không gian ven sông Hàn hoặc các điểm du lịch phù hợp. Điều cốt yếu là phải có cơ chế đặt hàng ổn định, kết hợp ngân sách, bán vé, lữ hành, khách sạn, tài trợ và sản phẩm trải nghiệm đi kèm.

Hình thành không gian trải nghiệm nghệ thuật Tuồng

Một đề xuất mới có tính khả thi là hình thành không gian hoặc tuyến phố trải nghiệm nghệ thuật Tuồng. Đây không chỉ là nơi để xem biểu diễn, mà là nơi công chúng được bước vào thế giới của Tuồng bằng nhiều giác quan: nhìn, nghe, mặc, thử, chạm, trò chuyện, chụp ảnh và tham gia.

Không gian này có thể gồm khu trình diễn trích đoạn; khu trưng bày phục trang, đạo cụ, mặt nạ, nhạc cụ; khu nghệ sĩ giới thiệu hóa trang; khu khách thử trang phục, vẽ mặt nạ, học động tác cơ bản như bước bộ, chỉ tay, vuốt râu, múa kiếm, múa cờ; khu chụp ảnh và khu sản phẩm sáng tạo lấy cảm hứng từ Tuồng.

Điều quan trọng là trải nghiệm phải vui, gần gũi nhưng không làm nhẹ đi chiều sâu của di sản. Mỗi hoạt động cần đi kèm một câu chuyện văn hóa ngắn: màu sắc mặt nạ biểu đạt tính cách nào, động tác ấy biểu thị điều gì, phục trang ấy thuộc dạng nhân vật nào. Có thể thí điểm vào cuối tuần tại một tuyến phố văn hóa, khu vực gần nhà hát hoặc điểm du lịch phù hợp, sau đó đánh giá và mở rộng.

Xây dựng Trung tâm dữ liệu số về Tuồng miền Trung

Trong thời đại số, bảo tồn Tuồng không thể chỉ là lưu giữ hồ sơ giấy hoặc hiện vật. Nhiều giá trị của Tuồng nằm trong giọng hát, cách nhả chữ, nhịp trống, ánh mắt, bước chân, cách hóa trang và kinh nghiệm nghề nghiệp của nghệ nhân. Những giá trị ấy rất dễ mất nếu không được ghi lại kịp thời.

Đà Nẵng có thể chủ trì hoặc đề xuất dự án chung xây dựng Trung tâm dữ liệu số về Tuồng miền Trung. Nội dung số hóa gồm kịch bản, bản ghi âm, bản ghi hình, hình ảnh nghệ sĩ, phục trang, đạo cụ, mặt nạ, tư liệu nghiên cứu, hồi ký, bài báo, luận văn, hồ sơ nghệ nhân. Đặc biệt cần ưu tiên ghi hình, ghi âm các nghệ nhân, nghệ sĩ cao tuổi như một nguồn tư liệu sống vô giá.

Trung tâm dữ liệu số không chỉ để lưu trữ mà còn phục vụ nghiên cứu, đào tạo, truyền thông, giáo dục và quảng bá. Với nhà nghiên cứu là kho tư liệu có hệ thống; với nghệ sĩ trẻ là nguồn học nghề; với học sinh là video ngắn, câu chuyện nhân vật, từ điển thuật ngữ dễ hiểu; với du khách quốc tế là phiên bản có phụ đề hoặc thuyết minh bằng ngoại ngữ. Số hóa, vì vậy, giúp Tuồng vượt qua giới hạn địa lý và tiếp cận thế hệ trẻ.

Đưa Tuồng vào trường học bằng hình thức trải nghiệm

Muốn Tuồng có tương lai, phải bắt đầu từ công chúng trẻ. Nhưng đưa Tuồng vào trường học không nên chỉ bằng lý thuyết. Với một loại hình giàu tính thị giác, âm nhạc, hình thể và biểu tượng, trải nghiệm trực tiếp luôn hiệu quả hơn bài giảng khô cứng.

Mô hình “Tuồng học đường” có thể triển khai theo từng cấp học. Tiểu học chú trọng hình ảnh, màu sắc, âm thanh, nhân vật; trung học cơ sở giới thiệu nhân vật, tích truyện, mặt nạ, vai trung - nịnh - lão - võ - văn; trung học phổ thông có thể gắn với lịch sử địa phương, sân khấu truyền thống, bản sắc xứ Quảng; sinh viên có thể tham gia tọa đàm, workshop, nghiên cứu nhỏ và dự án truyền thông.

Cần xem nghệ sĩ Tuồng là “người thầy đặc biệt” trong giáo dục di sản. Khi nghệ sĩ trực tiếp biểu diễn, kể chuyện nghề, hướng dẫn động tác, giải thích hóa trang, học sinh sẽ thấy Tuồng không xa lạ mà là một nghệ thuật có con người thật, mồ hôi thật, đam mê thật. Thành phố có thể xây dựng chương trình phối hợp thường niên giữa ngành văn hóa và giáo dục, kèm bộ học liệu ngắn gọn, đẹp, có hình ảnh và mã QR dẫn đến video.

Tổ chức Liên hoan Tuồng miền Trung định kỳ

Để khẳng định vai trò trung tâm kết nối, Đà Nẵng cần hướng tới tổ chức Liên hoan Tuồng miền Trung định kỳ. Đây không chỉ là hoạt động biểu diễn, mà là diễn đàn để các địa phương có truyền thống Tuồng gặp gỡ, trao đổi, giới thiệu thành tựu, học hỏi kinh nghiệm và cùng tìm hướng phát triển.

Liên hoan nên được thiết kế như một chuỗi hoạt động tổng hợp: biểu diễn vở truyền thống và vở mới, trích đoạn kinh điển, tiết mục nghệ sĩ trẻ, hội thảo khoa học, triển lãm phục trang - mặt nạ - đạo cụ, chiếu phim tư liệu, workshop cho học sinh, giao lưu nghệ sĩ với công chúng, biểu diễn ngoài trời và tour trải nghiệm Tuồng cho du khách.

Điều quan trọng là sau liên hoan phải hình thành mạng lưới hợp tác Tuồng miền Trung gồm các nhà hát, đoàn nghệ thuật, nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, trường đào tạo, đơn vị du lịch và truyền thông. Mạng lưới này có thể chia sẻ tư liệu, trao đổi vở diễn, phối hợp đào tạo, xây dựng chương trình học đường, tham gia trung tâm dữ liệu số và đề xuất chính sách chung cho bảo tồn, phát triển Tuồng.

Một số điều kiện bảo đảm

Để mô hình “Đà Nẵng - Thành phố Tuồng miền Trung” không dừng lại ở ý tưởng, cần có các điều kiện bảo đảm. Trước hết là cơ chế chính sách: thành phố cần có đề án riêng về bảo tồn và phát triển Tuồng, xác định rõ mục tiêu, lộ trình, nguồn lực, đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp, sản phẩm đầu ra và tiêu chí đánh giá.

Thứ hai là nguồn nhân lực. Tuồng là nghệ thuật của con người; không có nghệ sĩ, nghệ nhân, nhạc công, đạo diễn, tác giả, nhà nghiên cứu, người làm truyền thông và người quản lý am hiểu thì mọi mô hình đều khó thành công. Cần có chính sách thu hút, đào tạo, đãi ngộ, tôn vinh nghệ sĩ, đặc biệt là nghệ sĩ trẻ.

Thứ ba là truyền thông và liên kết ngành. Tuồng cần được kể lại bằng ngôn ngữ của thời đại: video ngắn, hình ảnh đẹp, phụ đề song ngữ, câu chuyện hậu trường, chân dung nghệ sĩ, nội dung mạng xã hội, website, ứng dụng du lịch. Đồng thời, Tuồng không thể chỉ là trách nhiệm của ngành văn hóa mà cần sự tham gia của giáo dục, du lịch, khoa học - công nghệ, ngoại vụ, doanh nghiệp, hội văn học nghệ thuật và cộng đồng.

Cuối cùng là tiêu chí đánh giá. Không nên đánh giá hoạt động Tuồng chỉ bằng số buổi diễn, mà cần tính đến số tác phẩm mới, số suất diễn thường xuyên, số học sinh tham gia trải nghiệm, số tư liệu được số hóa, số nghệ sĩ trẻ được đào tạo, số chương trình du lịch, mức độ hài lòng của công chúng, hiệu quả truyền thông và khả năng tạo dựng thương hiệu văn hóa cho thành phố.

 TỪ DI SẢN VĂN HÓA ĐẾN NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Trong nhiều năm, chúng ta thường nhìn Tuồng như một đối tượng cần hỗ trợ. Cách nhìn này xuất phát từ thực tế: sân khấu truyền thống đang thiếu khán giả, thiếu nguồn lực, thiếu lực lượng kế cận. Nhưng nếu chỉ xem Tuồng là loại hình cần “cứu”, chúng ta dễ rơi vào tư duy phòng thủ, chỉ cố giữ cho Tuồng không mất đi mà chưa đặt câu hỏi Tuồng có thể tạo ra giá trị gì mới cho đời sống hôm nay.

Trong nền kinh tế sáng tạo, di sản văn hóa không chỉ là ký ức của quá khứ mà còn là nguồn lực của tương lai. Di sản có thể tham gia vào giáo dục, du lịch, truyền thông, thiết kế, nghệ thuật đương đại, công nghiệp văn hóa, ngoại giao văn hóa và xây dựng thương hiệu địa phương. Tuồng, nếu được đầu tư đúng hướng, hoàn toàn có thể trở thành một nguồn lực phát triển của Đà Nẵng.

Trước hết là giá trị giáo dục. Qua các tích truyện, nhân vật và biểu tượng sân khấu, Tuồng chuyển tải những bài học về trung nghĩa, chính trực, hiếu nghĩa, trách nhiệm cộng đồng, khí phách trước cường quyền và phẩm giá con người. Đưa Tuồng vào trường học không phải để biến học sinh thành diễn viên, mà để các em hiểu di sản, tự hào về quê hương và hình thành năng lực thưởng thức cái đẹp truyền thống.

Thứ hai là giá trị du lịch. Đà Nẵng cần những sản phẩm du lịch có chiều sâu văn hóa. Tuồng với mặt nạ, phục trang, âm nhạc, vũ đạo và tính biểu tượng mạnh có thể trở thành điểm nhấn trong du lịch đêm, nếu được tổ chức thành chương trình ngắn gọn, có thuyết minh, phụ đề, giao lưu, trải nghiệm hóa trang và sản phẩm lưu niệm.

Thứ ba là giá trị truyền thông và thương hiệu địa phương. Trong thời đại truyền thông số, những gì có bản sắc mạnh, hình ảnh mạnh, câu chuyện mạnh đều có khả năng lan tỏa. Mặt nạ Tuồng, trang phục Tuồng, động tác Tuồng, câu chuyện hậu trường và chân dung nghệ sĩ đều là chất liệu truyền thông giàu sức hấp dẫn. Nếu biết kể bằng ngôn ngữ đương đại, Tuồng có thể góp phần làm sâu sắc hình ảnh một Đà Nẵng hiện đại nhưng không đứt gãy với truyền thống.

Thứ tư là giá trị công nghiệp văn hóa. Từ Tuồng có thể phát triển nhiều sản phẩm: chương trình biểu diễn định kỳ, tour trải nghiệm, workshop hóa trang, lớp học ngắn hạn, phim tài liệu, sách ảnh, truyện tranh, hoạt hình, sản phẩm thiết kế, quà lưu niệm, ứng dụng giáo dục. Việc khai thác phải dựa trên sự hiểu biết và tôn trọng di sản, tránh thương mại hóa thô thiển, nhưng không nên vì sợ sai mà để tài nguyên văn hóa nằm yên trong kho lưu trữ.

Điều cần thiết là chuyển từ tư duy “chi tiền để giữ Tuồng” sang tư duy “đầu tư để Tuồng tạo ra giá trị mới”. Đầu tư cho Tuồng không chỉ là kinh phí duy trì buổi diễn, mà là đầu tư cho con người, bản sắc, giáo dục thẩm mỹ, du lịch văn hóa, thương hiệu thành phố và tương lai sáng tạo. Khi ấy, mỗi chương trình Tuồng không chỉ là một nhiệm vụ văn hóa, mà còn là một tác nhân làm giàu đời sống tinh thần và năng lực cạnh tranh văn hóa của Đà Nẵng.

Con đường bền vững nhất cho nghệ thuật truyền thống là bảo tồn bằng phát triển, phát triển trên nền bảo tồn. Tuồng không thể sống nhờ lòng thương cảm; Tuồng phải sống bằng giá trị thật của mình, bằng khả năng làm đẹp đời sống, giáo dục con người, tạo cảm hứng sáng tạo và góp phần định vị bản sắc đô thị.

KẾT LUẬN

Nghệ thuật Tuồng đã đi qua một hành trình dài trong đời sống văn hóa dân tộc. Từ sân đình, sân miếu, tiếng trống chầu, lớp hóa trang rực rỡ và những đường roi, đường kiếm ước lệ, Tuồng lưu giữ trong mình khí phách, đạo lý, tâm hồn và trí tuệ thẩm mỹ của nhiều thế hệ người Việt.

Đối với Đà Nẵng, xây dựng thành phố trở thành trung tâm sáng tạo và trình diễn nghệ thuật Tuồng của miền Trung không phải là một mong muốn nhất thời. Đó là hướng đi có cơ sở từ lịch sử, từ không gian văn hóa Quảng Nam - Đà Nẵng, từ vị trí kết nối vùng, từ hạ tầng đô thị, từ tiềm năng du lịch và từ định hướng phát triển công nghiệp văn hóa.

Một đô thị càng phát triển càng cần chiều sâu văn hóa. Một thành phố càng hội nhập càng cần bản sắc riêng. Đà Nẵng không thể chỉ được nhận diện bằng biển xanh, cầu đẹp, lễ hội sôi động hay nhịp sống trẻ trung; Đà Nẵng còn cần được nhận diện bằng khả năng gìn giữ ký ức và sáng tạo tương lai từ chính di sản của mình.

Vì vậy, điều quan trọng nhất là phải thay đổi cách nhìn: Tuồng không chỉ là di sản cần được nâng đỡ, mà là tài sản văn hóa có khả năng sinh thành giá trị mới. Đầu tư cho Tuồng là đầu tư cho con người, cho bản sắc, cho giáo dục thẩm mỹ, cho du lịch văn hóa, cho thương hiệu địa phương và cho tương lai sáng tạo của thành phố.

Giữ Tuồng không phải để Tuồng đứng yên. Giữ Tuồng là để Tuồng tiếp tục hát lên giữa lòng thành phố hôm nay; để trong nhịp sống hiện đại của Đà Nẵng vẫn còn vang lên tiếng trống chầu, vẫn còn hiện diện những khuôn mặt trung, nịnh, lão, võ, văn; vẫn còn những lớp diễn nhắc con người biết sống ngay thẳng, nghĩa tình, khí phách.

Nếu làm được điều đó, Đà Nẵng không chỉ góp phần bảo tồn một di sản sân khấu quý báu của dân tộc, mà còn có thể kiến tạo một tương lai mới cho Tuồng - tương lai của một di sản biết sống, biết chuyển mình, biết tỏa sáng trong đời sống đương đại.

N.N.K

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2014), Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
  2. Bộ Chính trị (2020), Kết luận số 76-KL/TW ngày 04/6/2020 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI.
  3. Cục Di sản văn hóa (không ghi năm), “Nghệ thuật Tuồng xứ Quảng ở Đà Nẵng”, Cổng thông tin điện tử Cục Di sản văn hóa.
  4. Hoàng Châu Ký (chủ biên) (2001), Tuồng Quảng Nam, Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Nam, Tam Kỳ.
  5. Mịch Quang (1963), Tìm hiểu nghệ thuật Tuồng, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
  6. Mịch Quang (1995), Đặc trưng nghệ thuật Tuồng, Nxb Sân khấu, Hà Nội.
  7. Quốc hội (2001), Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10 ngày 29/6/2001.
  8. Quốc hội (2009), Luật số 32/2009/QH12 ngày 18/6/2009 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa.
  9. Tất Thắng (2006), Nghệ thuật Tuồng - nhận thức từ một phía, Nxb Văn học, Hà Nội.
  10. Thủ tướng Chính phủ (2016), Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 08/9/2016 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
  11. Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 1909/QĐ-TTg ngày 12/11/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030.
  12. UNESCO (2003), Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage, Paris.
  13. Xuân Yến (1998), Nghệ thuật Tuồng trong thời đại mới: vấn đề truyền thống và cách tân, Nxb Sân khấu, Hà Nội.