Xứ Nghệ - xứ Quảng: những mạch nguồn gặp gỡ

10.10.2026
Nguyễn Nho Khiêm
Trong cuộc gặp gỡ giữa văn nghệ sĩ Nghệ An và Đà Nẵng sắp tới, tôi chợt nghĩ, nếu lần theo những dấu chân người đi trước, chúng ta sẽ nhận ra hai vùng đất này đã có với nhau nhiều mối duyên sâu nặng. Trong lịch sử, có những người từ Nghệ An vào Quảng Nam dạy học, góp phần đào tạo một thế hệ trí thức yêu nước. Có người cùng các chí sĩ xứ Quảng bàn việc nước trong những năm đầu thế kỷ XX. Rồi qua hai cuộc kháng chiến, nhiều người con xứ Nghệ lại đến với chiến trường Khu 5, để sau ngày đất nước thống nhất, họ ở lại, gắn bó với Đà Nẵng - Quảng Nam bằng chính cuộc đời và những trang viết của mình.

Xứ Nghệ - xứ Quảng: những mạch nguồn gặp gỡ

Ảnh minh họa AI.

Nhìn từ những cuộc đời ấy, quan hệ giữa hai vùng đất không chỉ là sự gần gũi về truyền thống yêu nước, hiếu học, mà còn là một quá trình giao thoa văn hóa, trong đó mỗi vùng đất góp phần làm giàu thêm đời sống tinh thần của vùng đất kia.

Người thầy xứ Nghệ và những nhân tài đất Quảng

Nhắc đến những người Nghệ An có công đóng góp cho xứ Quảng, tôi nghĩ trước hết đến cụ Trần Đình Phong (1847-1920), hiệu Mã Sơn, người từng giữ chức Đốc học tỉnh Quảng Nam từ năm 1893 đến năm 1905.

Cụ đồ Nghệ Trần Đình Phong. Ảnh tư liệu.

Hơn mười năm đứng đầu việc học ở Quảng Nam, cụ đã dành nhiều tâm huyết chấn chỉnh trường Đốc Thanh Chiêm, lựa chọn thầy giỏi, tuyển học trò có tư chất và trực tiếp giảng dạy, khảo hạch. Dưới thời cụ, trường đạt những thành tích khoa cử nổi bật. Nhiều học trò của cụ sau này trở thành những tên tuổi lớn trong lịch sử dân tộc, như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp.

Nhắc đến trường Đốc Thanh Chiêm, người ta thường nhớ danh xưng “Ngũ phụng tề phi”, niềm tự hào của truyền thống khoa bảng Quảng Nam. Nhưng phía sau những thành tựu ấy còn có công sức của một người thầy quê Nghệ An, người đã góp phần vun đắp nền tảng tri thức và khí phách cho một thế hệ trí thức xứ Quảng.

Điều khiến tôi xúc động hơn cả là tình cảm của cụ đối với vùng đất mình từng gắn bó. Cụ viết Quảng Nam tỉnh phú, ngợi ca vùng đất địa linh nhân kiệt, trọng đạo học, trọng nhân tài. Quảng Nam đối với cụ không chỉ là nơi làm quan, mà đã trở thành một quê hương thứ hai.

Một người thầy từ phương xa đến, đem tri thức và tâm huyết của mình vun trồng cho đất khách; rồi chính đất khách đón nhận, ghi nhớ công lao và dành cho ông sự kính trọng như người thân thuộc. Chẳng phải đó là một biểu hiện đẹp đẽ của văn hóa hay sao?

Lịch sử thường ghi danh những người đỗ đạt, những nhà hoạt động chính trị, những người làm nên sự kiện lớn. Nhưng trong hành trình hình thành nhân tài, vai trò của người thầy đôi khi lặng lẽ hơn mà sức ảnh hưởng lại kéo dài qua nhiều thế hệ. Trần Đình Phong là một trường hợp như vậy.

Từ câu chuyện của cụ, tôi nghĩ đến những người làm văn hóa hôm nay. Công việc của chúng ta không chỉ là tạo ra một tác phẩm, tổ chức một cuộc triển lãm hay một chương trình nghệ thuật. Đó còn là việc tạo dựng môi trường để tài năng được phát hiện, nuôi dưỡng những người trẻ, truyền lại những giá trị tốt đẹp và khơi mở khả năng sáng tạo cho cộng đồng.

Một người thầy có thể làm thay đổi vận mệnh của nhiều học trò. Một người làm văn hóa có thể góp phần đánh thức những giá trị đang tiềm ẩn trong một vùng đất. Và những đóng góp ấy, khi xuất phát từ sự tận tâm, có thể vượt qua ranh giới quê quán để trở thành tài sản chung của cộng đồng.

Khi người Nghệ và người Quảng cùng lo việc nước

Nếu Trần Đình Phong kết nối hai vùng đất bằng con đường học vấn, thì Phan Bội Châu lại đưa mối giao tình ấy vào một bước ngoặt lớn của lịch sử dân tộc.

Đầu thế kỷ XX, khi các phong trào yêu nước đứng trước yêu cầu tìm kiếm một con đường mới để giành độc lập, người chí sĩ xứ Nghệ - Phan Bội Châu đã có mối liên hệ mật thiết với những nhà yêu nước Quảng Nam. Nổi bật trong số đó là Tiểu La Nguyễn Thành, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp.

Nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu.. Ảnh tư liệu.

Tháng 4 năm 1904, tại Nam Thịnh sơn trang ở Thăng Bình, Quảng Nam, Phan Bội Châu cùng Nguyễn Thành và các đồng chí thành lập Duy Tân hội, mở ra một tổ chức có vai trò quan trọng trong phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX và sự hình thành phong trào Đông Du. Quảng Nam khi ấy không chỉ là quê hương của nhiều chí sĩ mà còn là nơi hội tụ, kết nối những người cùng chung khát vọng cứu nước.

Những cuộc gặp gỡ giữa Phan Bội Châu với các chí sĩ Quảng Nam còn cho thấy một điều đáng suy ngẫm: những người cùng yêu nước không nhất thiết phải có chung một phương pháp hành động.

Phan Bội Châu chủ trương tìm kiếm sự hỗ trợ từ bên ngoài, tổ chức phong trào Đông Du; trong khi Phan Châu Trinh đề cao việc khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Những khác biệt về đường lối không xóa đi sự trân trọng dành cho chí khí và tấm lòng của nhau.

Trong lịch sử, đó là những lựa chọn khác nhau trước vận mệnh đất nước. Nhìn từ hôm nay, câu chuyện ấy còn gợi ra một bài học về đối thoại và ứng xử văn hóa: muốn làm nên việc lớn, con người cần biết lắng nghe, tôn trọng những khác biệt và nhận ra điều có thể gặp nhau ở mục tiêu chung.

Tôi nghĩ những người làm văn học nghệ thuật cũng có thể tìm thấy ở đó một ý nghĩa gần gũi. Văn nghệ sĩ Nghệ An có cách nhìn, cách cảm, cách biểu đạt mang dấu ấn của quê hương mình. Văn nghệ sĩ xứ Quảng cũng có tiếng nói riêng được hình thành từ lịch sử, phong tục, cảnh quan và tính cách con người nơi đây. Chúng ta không cần làm cho những tiếng nói ấy giống nhau. Điều cần thiết là tạo điều kiện để chúng gặp gỡ, bổ sung và làm giàu cho nhau.

Văn hóa không phát triển bằng sự đồng nhất. Văn hóa phát triển khi mỗi bản sắc được gìn giữ, được tôn trọng và có cơ hội đối thoại với những bản sắc khác.

Từ những cuộc bàn việc nước của các chí sĩ đầu thế kỷ XX đến cuộc giao lưu giữa văn nghệ sĩ Nghệ An và Đà Nẵng hôm nay, khoảng cách thời gian đã rất dài, hoàn cảnh lịch sử cũng hoàn toàn khác. Nhưng tinh thần gặp gỡ, sẻ chia vì những giá trị chung vẫn là điều đáng trân trọng.

Những người con xứ Nghệ ở lại với đất Quảng

Chiến tranh đã đưa nhiều người từ khắp mọi miền Tổ quốc đến với chiến trường Khu 5. Trong số đó có những người con Nghệ An. Họ đến đây với tư cách người lính, người làm báo, người hoạt động văn nghệ; rồi có những người sau ngày hòa bình đã ở lại, tiếp tục sống và sáng tác trên vùng đất từng in dấu những năm tháng chiến tranh.

Với tôi, đây là một trong những chương giàu tình cảm nhất của mối giao duyên Nghệ An - xứ Quảng.

Bởi nếu trong thời chiến, người lính đến với một vùng đất bằng nhiệm vụ chiến đấu và bảo vệ đồng bào, thì khi hòa bình lập lại, sự gắn bó ấy được tiếp tục bằng một lựa chọn khác: ở lại, xây dựng cuộc sống, làm nghề và góp phần tạo dựng đời sống văn hóa cho quê hương thứ hai.

Nhà văn Thái Bá Lợi là một gương mặt tiêu biểu.

Sinh năm 1945 tại Quỳnh Lưu, Nghệ An, ông nhập ngũ năm 1965, trải qua nhiều chiến trường ác liệt. Năm 1971, khi đang là quân y sĩ ở vùng rừng Đại Lộc, Quảng Nam, ông được điều về Ban Văn học thuộc Cục Chính trị Quân khu 5 để viết văn, làm báo. Năm 1983, ông chuyển công tác về Hội Văn học - Nghệ thuật Quảng Nam - Đà Nẵng và gắn bó với vùng đất xứ Quảng đến hôm nay.  

Từ người lính quân y đến nhà văn, hành trình của Thái Bá Lợi đi qua những trải nghiệm mà không phải ai cũng có. Ông đã chứng kiến chiến tranh từ những nơi sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc; đã sống giữa những con người chịu nhiều mất mát; rồi từ vốn sống ấy, đi sâu khám phá những vấn đề của con người trong chiến tranh và thời bình.

Tác phẩm của nhà văn Thái Bá Lợi.

Những tác phẩm như Họ cùng thời với những ai, Trùng tu, Minh sư, Câu chuyện Đà Nẵng góp phần làm nên một diện mạo văn xuôi giàu suy tư, gắn với lịch sử, con người và những biến động của đời sống.

Thái Bá Lợi được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2012 và Giải thưởng Văn học Đông Nam Á năm 2013 cho tiểu thuyết Minh sư. Nhưng khi nghĩ về ông trong câu chuyện Nghệ An - xứ Quảng, điều tôi muốn nhấn mạnh không chỉ là những giải thưởng hay vị trí của một nhà văn.

Điều đáng quý hơn là cách một người con xứ Nghệ đã sống và sáng tác với vùng đất mình lựa chọn gắn bó. Quảng Nam - Đà Nẵng không còn đơn thuần là địa danh của chiến trường trong ký ức người lính, mà trở thành một phần sâu sắc trong thế giới nghệ thuật của nhà văn.

Có thể nói, quê hương trong văn chương không chỉ được xác định bằng nơi sinh. Nó còn được tạo nên từ nơi người viết đã sống, đã yêu thương, đã chứng kiến những phận người và tìm thấy những câu hỏi không thể rời bỏ trong suốt hành trình sáng tác.

Cùng với Thái Bá Lợi, nhà văn Nguyễn Bá Thâm cũng là một trường hợp đáng nhắc đến.

Quê ở Nghi Hương, Cửa Lò, Nghệ An, ông vào chiến trường Khu 5 tháng 5 năm 1971, công tác tại Hội Văn nghệ Giải phóng Trung Trung Bộ. Sau năm 1975, ông ở lại Quảng Nam - Đà Nẵng, gắn bó lâu dài với hoạt động hội và công tác biên tập, xuất bản của văn học nghệ thuật địa phương.

Những trang ký của Nguyễn Bá Thâm thường hướng về miền núi, vùng biên giới, đồng bào Cơ Tu, Ca Dong và những con người từng đi qua chiến tranh. Các tác phẩm Đi dọc đường biên, Đất của máu và lửa thể hiện sự gắn bó với vùng đất phía Tây Quảng Nam, nơi ông được gọi bằng một cái tên giàu tình cảm: “người con của rừng”.

Tôi thích cách gọi ấy, bởi nó nói lên một sự thật giản dị: con người có thể thuộc về một vùng đất bằng tình yêu và sự gắn bó, chứ không chỉ bằng nơi chôn nhau cắt rốn.

Muốn viết về miền núi, người cầm bút phải đến với núi rừng, đi trên những con đường biên giới, gặp gỡ và lắng nghe đồng bào. Muốn viết về những con người từng chịu đựng chiến tranh, phải biết tôn trọng ký ức của họ. Muốn tác phẩm có sức sống, người viết phải để đời sống đi vào trang sách bằng những trải nghiệm chân thật.

Những nhà văn như Thái Bá Lợi, Nguyễn Bá Thâm đã góp phần làm giàu thêm văn học Đà Nẵng bằng chính vốn sống và sự gắn bó ấy. Họ mang đến vùng đất này những ký ức, trải nghiệm của người con xứ Nghệ, đồng thời tiếp nhận từ đất Quảng một nguồn chất liệu rộng lớn về con người, lịch sử và văn hóa.

Sự giao thoa diễn ra tự nhiên trong quá trình sống và sáng tác. Người viết không cần cố gắng tạo ra một sự pha trộn nào. Chỉ cần sống thật với trải nghiệm của mình, hiểu vùng đất mình đang viết và có trách nhiệm với con người trong tác phẩm, những giá trị của nhiều miền quê sẽ tự tìm đến nhau.

Bên cạnh đó, nhà thơ Phan Hoàng Phương, sinh ra tại Nghĩa Đàn, Nghệ An, hiện sống và hoạt động tại Đà Nẵng, cũng là một gương mặt cho thấy mối liên hệ ấy vẫn tiếp diễn trong đời sống văn học nghệ thuật hôm nay. Từ quê hương xứ Nghệ đến môi trường sáng tác ở Đà Nẵng, hành trình của những người cầm bút như ông tiếp tục nối dài những cuộc gặp gỡ giữa các vùng văn hóa.

Nhìn rộng ra, những gương mặt ấy không chỉ là những người Nghệ An sống tại Đà Nẵng. Họ là một phần của đời sống văn học nghệ thuật địa phương, cùng các đồng nghiệp sinh ra trên đất Quảng tạo nên một không gian sáng tác chung. Ở đó, quê quán vẫn là căn cước đáng trân trọng, nhưng không phải là ranh giới ngăn cách con người.

Từ tình nghĩa lịch sử đến cuộc gặp gỡ hôm nay

Nhìn lại những mối liên hệ giữa Nghệ An và xứ Quảng, tôi nhận ra một điều: sự giao thoa văn hóa không phải lúc nào cũng diễn ra bằng những chương trình lớn hay những chủ trương được hoạch định từ trước. Nhiều khi, nó bắt đầu từ một người thầy tận tâm, một cuộc gặp gỡ giữa những người cùng chí hướng, một người lính quyết định ở lại, hay một nhà văn dành cả đời mình để viết về con người của vùng đất đã cưu mang mình.

Qua nhiều thế hệ, những cuộc gặp gỡ ấy tích tụ thành ký ức chung, thành những giá trị được cộng đồng ghi nhận và truyền lại.

Ngày nay, trong bối cảnh đất nước phát triển và hội nhập sâu rộng, việc kết nối các vùng văn hóa càng có ý nghĩa quan trọng. Với Đà Nẵng, không gian văn hóa sau khi mở rộng địa giới hành chính đã bao gồm cả đô thị, đồng bằng, miền núi và biển; cùng những cộng đồng cư dân mang nhiều truyền thống, trong đó có các dân tộc thiểu số ở phía Tây. Điều ấy đặt ra yêu cầu vừa bảo tồn những giá trị riêng, vừa tạo dựng môi trường để các nguồn lực văn hóa gặp gỡ và phát triển.

Trong hành trình đó, quan hệ với các địa phương giàu truyền thống như Nghệ An cần được nhìn nhận không chỉ ở góc độ giao lưu, mà còn là cơ hội hợp tác sáng tạo, nghiên cứu và giới thiệu di sản văn hóa của nhau.

Tôi nghĩ hai bên có thể bắt đầu từ những việc thiết thực: tổ chức các cuộc tọa đàm về văn học nghệ thuật Nghệ An - xứ Quảng; giới thiệu tác giả, tác phẩm trên tạp chí và các nền tảng truyền thông; tổ chức những chuyến đi thực tế sáng tác; trao đổi kinh nghiệm hoạt động hội; tạo điều kiện để văn nghệ sĩ trẻ gặp gỡ những người đi trước.

Một chuyên đề về các nhà văn quê Nghệ An gắn bó với xứ Quảng cũng là việc đáng làm. Qua đó, chúng ta có thể nhìn rõ hơn hành trình của những người đã góp phần làm nên diện mạo văn học địa phương, đồng thời lưu giữ những câu chuyện đời và chuyện nghề đang dần lùi xa theo thời gian.

Cũng có thể nghĩ đến một tuyển tập về tình đất, tình người xứ Nghệ - xứ Quảng, nơi các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, nghệ sĩ nhiếp ảnh và những người hoạt động ở các lĩnh vực nghệ thuật khác cùng góp tiếng nói của mình. Mỗi người có thể kể một câu chuyện, ghi lại một ký ức, khám phá một nét văn hóa hoặc sáng tạo một tác phẩm từ những cuộc gặp gỡ giữa hai vùng đất.

Điều quan trọng không nằm ở quy mô của chương trình, mà ở khả năng tạo ra những mối liên hệ bền vững giữa con người với con người, giữa truyền thống với sáng tạo hôm nay.

Tôi cũng mong những cuộc giao lưu như cuộc gặp giữa văn nghệ sĩ Nghệ An và Đà Nẵng sẽ không chỉ dành cho những người đã có nhiều năm hoạt động nghề nghiệp. Sự tham gia của thế hệ trẻ là điều cần thiết, bởi chính họ sẽ tiếp tục những mạch nguồn đã được vun đắp từ trước. Những người đi trước có thể trao lại vốn sống, kinh nghiệm và ký ức; người trẻ đem đến cách nhìn mới, phương thức sáng tạo mới và những câu hỏi mới cho đời sống văn hóa.

Nếu các cuộc gặp gỡ tạo ra được những tác phẩm có giá trị, những công trình nghiên cứu có chiều sâu, những mối quan hệ nghề nghiệp lâu dài, thì đó mới là thành quả bền vững nhất của giao lưu văn học nghệ thuật.

Những mạch nguồn không đứt đoạn

Có lẽ điều đẹp nhất trong mối quan hệ xứ Nghệ - xứ Quảng là mỗi vùng đất vẫn giữ được căn cước riêng của mình, nhưng không khép kín trước những giá trị từ nơi khác.

Người Nghệ An mang vào xứ Quảng truyền thống hiếu học, tinh thần dấn thân, sự bền bỉ trong lao động và sáng tạo. Người xứ Quảng đón nhận, đồng hành, tạo điều kiện để những phẩm chất ấy được phát huy trong một môi trường sống mới. Qua quá trình ấy, cả người đến lẫn nơi đón nhận đều có thể trở nên phong phú hơn.

Tất nhiên, không thể chỉ từ một vài nhân vật mà khái quát toàn bộ mối quan hệ giữa hai vùng đất. Nhưng qua những trường hợp tiêu biểu, chúng ta có thể nhận ra một quy luật gần gũi của đời sống văn hóa: những giá trị tốt đẹp thường không dừng lại trong phạm vi nơi chúng được sinh ra. Chúng đi theo con người, được tiếp nhận, bồi đắp và tiếp tục nảy nở ở những miền đất khác.

Từ cụ Trần Đình Phong với mái trường Đốc Thanh Chiêm, đến Phan Bội Châu cùng các chí sĩ Quảng Nam trong phong trào yêu nước; từ những người lính, nhà văn như Thái Bá Lợi, Nguyễn Bá Thâm đến các thế hệ văn nghệ sĩ đang sống và sáng tác hôm nay, mỗi người đều góp một phần vào câu chuyện giao thoa ấy.

Tôi nghĩ, giữa những biến đổi của thời đại, điều chúng ta cần giữ gìn không chỉ là ký ức về những người đi trước, mà còn là tinh thần đã làm nên những mối giao tình đẹp đẽ: sự trân trọng tri thức, lòng yêu quê hương, thái độ cởi mở trước khác biệt và trách nhiệm với cộng đồng.

Văn học nghệ thuật có một cách riêng để giữ gìn những điều ấy. Một trang văn có thể lưu lại bóng dáng của một vùng rừng, một làng quê, một con người đã khuất. Một bài thơ có thể đưa tiếng nói của miền này đến với tâm hồn người miền khác. Một bức ảnh có thể khiến người xem nhận ra vẻ đẹp của một vùng đất mà họ chưa từng đặt chân đến. Và một cuộc gặp gỡ giữa những người làm nghệ thuật có thể mở ra những hành trình sáng tạo chưa từng có trước đó.

Từ xứ Nghệ đến xứ Quảng, những mạch nguồn ấy đã chảy qua nhiều thế hệ. Chúng không làm cho hai vùng đất trở thành một, mà giúp mỗi vùng hiểu mình hơn qua sự gặp gỡ với vùng đất kia.

Và có lẽ, đó cũng là ý nghĩa sâu xa nhất của những cuộc giao lưu văn học nghệ thuật: không chỉ để chúng ta biết thêm về nhau, mà để từ sự hiểu biết ấy, mỗi người thêm yêu quê hương mình, thêm trân trọng quê hương của người khác và cùng góp sức làm giàu nền văn hóa chung của dân tộc.

N.N.K