“Dưới đất trên trời giữa có dân”

Cụ Huỳnh Thúc Kháng (hàng đầu, bên phải) với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi ra mắt Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến. Ảnh tư liệu.
Sống trong chế độ phong kiến - thực dân, thường xuyên chứng kiến cảnh nhân dân phải chịu thống khổ “một cổ hai tròng”, cơ cực, lầm than và gần như bị tước hết quyền, kể cả quyền được sống, cụ Huỳnh Thúc Kháng luôn trăn trở, trằn trọc, lo âu... Trong các trước tác của mình, cụ đã dành nhiều trang viết về nhân dân/ dân/ đồng bào/ quốc dân. Nhân dân trong tác phẩm cụ là những người chịu bao nỗi cực khổ và nỗi đau mất nước. Cụ thấy được sức mạnh nhân dân và lãnh lấy sứ mệnh thay mặt nhân dân lên tiếng với chính quyền. Trong con người cụ luôn thường trực “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”...
* Xót xa tình cảnh nhân dân, đau nỗi đau nhân thế
Sinh thời, cụ Huỳnh Thúc Kháng có lần bộc bạch: “Tôi một học trò gốc sinh trưởng nhà nông nghèo trong thôn quê, đã là cái hoàn cảnh phác dã, thô vụng, khô khan, quê kệch, gia dĩ đặc tính trời phú ham mê về sự học, nửa đời người tôi, ngoài cái văn thơ sách vở ra, gần như không có gì gọi là “mỹ cảm”. Bởi vậy, trong bạn lứa anh em đồng thời với tôi… thường có lời nhạo tôi là “lão phác” vì không biết bốn cái hứng thú mà làng văn thích ngoạn thưởng: không biết uống rượu, không biết chơi hoa, không biết ngắm sắc, không biết thưởng sơn thủy”. Tuy nhiên, ngẫm thơ, có thể thấy cụ Huỳnh vẫn rất phong nhã. Là nhà nho, như bao chí sĩ khác, thơ cụ để giãi bày nỗi lòng thời thế. Theo cách của cụ, một sĩ phu chân chính lúc nước mất nhà tan thì không thể nào an tâm hưởng hoa vọng nguyệt được.
Tình cảnh cơ cực, bần hàn làm đau lòng cụ. Cụ trăn trở, thổn thức với nhân dân qua các cảnh thật cảm động:
…Mặt mũi áo quần bùn chất đống
Tối lại trời đen mò, tát nước
gàu dai thở hù họng
Mồ hôi nước mắt trộn làm phân…
(Nhà nông nghèo ở thôn quê, Tiếng Dân số 476 ngày 9/4/1932)
Dân nghèo không ruộng biết nhờ ai?
Đậu, bắp, mì, khoai, gạo đỡ ngày
Chẳng rõ vì sao thêm mối khổ?
Hôm qua ông Lý bắt đòi khai
(Cảnh nhà quê, Tiếng Dân số 493, ngày 8/6/1932)
Khóc than biết có thấu trời chăng
Trời cứ thinh thinh chẳng nói năng
Xin hỏi dân này bần lại khổ
Tai ương chồng chất mấy trăm lần
(Dân xứ bị lụt, Tiếng Dân số 531, ngày 19/10/1932)
Dân ta khổ vì đâu? Bao câu hỏi ray rứt, cụ thốt lên: Cái khổ nhà nông đói/ Vì ai gây nên nỗi? (Người cày, Tiếng Dân số 772, ngày 2/3/1935). Một câu hỏi không cần đáp. Và, từ đó, cụ có thư gởi Ủy ban điều tra Quốc hội Pháp vào ngày 9/11/1937, để đề đạt nguyện vọng của nhân dân.
* Khẳng định vai trò của nhân dân
“Bộ ba” Quảng Nam thời bấy giờ có những quan niệm về nhân dân rất tiến bộ. Cụ Trần Quý Cáp: giáo dân, dưỡng dân, tân dân; cụ Phan Châu Trinh: Chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh. Trong phong trào Duy tân của các cụ, cụ Huỳnh quan niệm giữa vũ trụ này là nhân dân: Sinh ra một nước phải lo phần/ Dưới đất trên trời giữa có dân (Tiếng Dân tự đề)1.
Cụ giảng “Nghĩa chữ dân” cặn kẽ và sâu sát. Theo cụ, “hợp dân thành nước” và “Nước lấy dân làm gốc, dân an thì nước mới vững bền”2.
Về mối quan hệ dân quyền và nhân quyền, cụ cho rằng “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” thì dân và nhân chả khác gì cả (Tiếng Dân số 955, ngày 3/9/1936). Đây là quan niệm hiện đại. Trên cơ sở đó, cụ tiếp tục thể hiện trong bài luận “Chánh trị trong nước mà muốn cho nhân dân có lòng tín nhiệm thì cần nhứt là điều gì” (Tiếng Dân số 286 và 287 - 31/5 và 4/6/1930).
Những quan niệm đó đều bắt đầu “Dân quyền mầm mống đầu tiên đấy” và được thể hiện súc tích, cụ thể “nước là có lãnh thổ, có nhân dân và chính quyền” (Tiếng Dân số 1750, ngày 27/2/1943).
Trong ưu tư thế thái nhân tình nặng trĩu ấy, cụ Huỳnh cho rằng, dù có bao thay đổi bể dâu, nhân dân vẫn là hồn nước, nước là nước của nhân dân: Cuộc đời thay đổi biển ra cồn/ Người có lương tâm nước có hồn (Khóc cụ Giai Huân).
Nhưng dù thế nào chăng nữa, đất nước ngàn năm vẫn nguyên vẹn trong lòng dân tộc, trong tâm trí mọi người. Ý thức trách nhiệm về đất nước thiêng liêng: Non sông nước cũ còn nguyên đó/ Kéo lại nhành xuân để đợi ai (Tết, Tiếng Dân số 253, ngày 29/1/1930).
Cách mạng Tháng Tám thành công, cụ Huỳnh nhận ra sức mạnh nhân dân là to lớn. Lời thơ hào sảng, đầy nghĩa khí trong tác phẩm viết bằng chữ Hán “Việt Nam Chính phủ “Quân dân chính” kháng chiến Ủy ban kính cáo đồng bào quốc dân thư”: Một trường oanh liệt, dựng lại non sông.../ Sấm sét ầm ầm vang đất hạn; gió mây rầm rập thét oai quân,… (bản dịch của Nguyễn Ngọc Tỉnh).
Sau khi reo vui “sướng ơi là sướng” với nền độc lập, cụ Huỳnh nhấn mạnh: cần phải bảo vệ thành quả cách mạng đó. Để bảo vệ, không có sức mạnh nào bằng sức mạnh nhân dân, đó là sức mạnh không có gì ngăn cản được. Trong “Bài ca cứu quốc”, cụ Huỳnh thôi thúc:
Trung Nam Bắc hè nhau cùng
dậy dậy,
Đem máu xương giữ lấy chủ quyền,
Sóng hoàn cầu dẫu bao cuộc
biến thiên.
Đường lịch sử quả nhiên
thu phần thắng.
Sức mạnh ấy chả thứ gì ngăn chặn
Thử ngẩng đầu trông thẳng suốt
năm châu,
Kìa ai đi ngược trào lưu!
* Tiếng Dân là dân lên tiếng
Sinh thời, cụ Huỳnh nói đại ý rằng, tại sao chẳng ai làm cả mà để nhà nho như cụ làm báo. Cụ làm báo cũng là vì dân: “Tiếng Dân là dân lên tiếng”. Trong Lời phi lộ của bản báo số đầu tiên (số 01 ngày 10/8/1927), cụ thẳng thừng đón nhận sứ mệnh: “Đối với đồng bào xin làm vị thuốc đắng, mong rằng bỏ lòng ghen ghét mà dốc lòng thương yêu; đối với chánh phủ xin làm người bạn ngay, mong rằng theo trình độ dân mà thật lòng cải cách”.
Tuyên ngôn báo chí của cụ bất di bất dịch, cực kỳ súc tích, vô cùng độc đáo: “Nếu không có quyền nói thì ít ra cũng giữ được cái quyền không nói những điều người ta buộc nói”. Hai năm sau, năm 1929, cụ khẳng định lại cái quyền bị tước mất và cái quyền không ai tước đi được của mình: “Vì rằng ta không có quyền tự do nói những điều nên nói, mà ta lại có quyền tự do không nói những cái không nên nói”…
Tờ báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng chống chính quyền thuộc địa của Pháp và chính quyền Nam Triều rất quyết liệt và suốt 16 năm, trang báo của cụ đầy ắp bao nhiêu điều cần nói với đồng bào. Thời buổi của cụ mà không nói “a dua” thì đáng khâm phục. Có lẽ tinh thần này sống mãi, rực sáng với thời gian và lịch sử báo chí Việt Nam.
Cụ nói lên nỗi thống khổ của đồng bào và mạnh dạn vạch trần xảo ngôn, mị dân của thực dân Pháp để cho độc giả, đồng bào thấu hiểu. Cụ vinh danh các phong trào yêu nước, những cuộc cách mạng giành độc lập… Với cụ Huỳnh, “Dân là gốc nước - Tiếng dân đâu đó cũng là dân”. Số báo ra ngày 20/8/1928, cụ khẳng định: “Ngày nay là ngày dân quyền phát đạt. Khắp trên thế giới chữ Dân đã hiện thành một chữ rất to lớn. Nét ngang, sổ dọc, đá ngược, vác xiên, sáng chói rõ ràng như mặt trời treo giữa khoảng không, gom tóm cả loài người trên mặt địa cầu, thâu vào dưới bóng sáng đó”.
Cứ mỗi khi có dịp viết về tờ báo của mình nhân ngày kỷ niệm các năm, cụ đều nhắc nhở lại trách nhiệm của người làm báo: Ngòi bút chưa xong cái nợ đời (Ngày đệ tứ chu niên báo Tiếng Dân, Tiếng Dân số 408 ngày 8/8/1931); Ngòi bút quanh năm chẳng nới tay (Khai bút, Tiếng Dân số 460 ngày 13/2/1932); Mực say bút múa sức xông pha (Mừng kỷ niệm sinh nhật báo Tiếng Dân năm thứ năm, Tiếng Dân số 511 ngày 10/8/1932).
Với cụ, mục đích của người làm báo là:
Ngậm khổ nuốt đau nín đã từng
Mới đây khắp xứ tiếng vang lừng
Kêu ngay giấc mộng nghìn năm dậy
Cuốn sạch màn che mấy lớp dừng
…
Đồng bào ai nấy ghi cho nhớ
Tấn hóa đường kia bước chả ngừng
(Kỷ niệm đệ nhất chu niên báo Tiếng Dân, Tiếng Dân số 103 ngày 11/8/1928)
Và, khi tiếng nói của nhân dân vút lên, thì không thể nào “câm” (chữ cụ Huỳnh), với một ước nguyện duy nhất là có cuộc sống hạnh phúc, quyền thiêng liêng của con người: Miễn đặng bà con may mặc ấm/ Kéo tơ đâu dám kể công tằm (Kỷ niệm đệ nhị chu niên Báo Tiếng Dân, Tiếng Dân số 204, ngày 10/8/1929)1.
* Vì nhân dân mà hành xử
Cụ Huỳnh Thúc Kháng ra làm Viện trưởng Viện dân biểu Trung Kỳ cốt cũng vì dân, những mong giúp dân. Trong lời đáp “Bài diễn thuyết của quan Khâm sứ” đọc tại Viện Nhân dân đại biểu Trung Kỳ, Huế năm 1926, cụ nói rõ: “Anh em chúng tôi đã chịu nhân dân phó thác bắt đầu ra mà đương cái trách nhiệm này”. Nhưng khi gặp cảnh nghị gật, nghị hùa theo, không vì lợi ích nhân dân thì cụ dứt áo ra đi.
Việc cụ Huỳnh tham chính cũng là vì dân. Cụ ra Hà Nội cốt để gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh chứ không hề có ý định làm quan, còn dặn anh em: “Tôi sẽ trở về lo việc công ty như thường”. Đến Hà Nội, nhân gặp Nguyễn Hải Thần, cụ Huỳnh cố gắng thuyết phục họ nên cộng tác thật sự với Chính phủ Liên hiệp. Được Nguyễn Hải Thần nghênh tiếp hậu đãi, những tưởng lấy lòng đặng “kéo” cụ, nhưng khi ra về, cụ thẳng thừng bảo: “Làm cách mạng như vậy thì sướng thật! Thấy bàn đèn, thấy mụ vợ Tàu trẻ, tự nhiên hết tin tưởng!”. Nhưng khi nghe Hồ Chủ tịch giải thích không phải quan và thiết tha thỉnh cầu, rằng “Trên con đường tranh đấu giành độc lập, cụ đã đi được 99 dặm, chỉ còn một dặm nữa, xin cụ đừng thoái thác!”, cụ Huỳnh thanh thản: “Nếu cụ thấy ba chữ Huỳnh Thúc Kháng còn chỗ dùng đối với Tổ quốc... thôi thì xin hiến cho cụ dùng!” và tuyên bố: “Trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ già, trẻ, trai, gái, ai cũng ra sức phụng sự Tổ quốc”. Khi nghe đến vì nhân dân, rất rõ ràng, không thoái thác, rất khí khái, cụ hiến cuộc đời cho Tổ quốc.
Cụ Huỳnh hành xử Vụ án phố Ôn Như Hầu cũng trên quan điểm dân là trên hết, Tổ quốc trên hết. Cụ kêu gọi, mong mỏi khối đoàn kết dân tộc và khuyên mọi người phải tôn trọng pháp luật của Nhà nước, tôn trọng quyền sống và lợi ích của Nhân dân. Trước vụ phố Ôn Như Hầu, nhân danh Quyền Chủ tịch nước, cụ tuyên bố thẳng: “Đoàn kết là cần để xây dựng nền dân chủ - cộng hòa, nhưng không thể dựa vào “đoàn kết” mà làm những điều phi pháp. Tôi khuyên mọi đảng phái, mọi phần tử quốc dân đoàn kết. Nhưng cũng vì quyền lợi quốc gia, tôi phải đem ra trước pháp luật những kẻ làm điều phi pháp...”.
Ai, bất kỳ đó là thế lực nào mà đụng đến dân, đụng đến chính phủ của Hồ Chí Minh, đụng đến “hồng phúc của dân” Hồ Chí Minh vĩ đại,… cụ Huỳnh đều không tha. Trên đường đi kinh lý miền Trung, khi cụ hô hào nhân dân theo Hồ Chủ tịch, có người nghi ngờ, cụ thẳng thừng và nghiêm: “Ông tưởng tôi tâng bốc cụ Hồ ư? Tôi xưa nay chưa biết nịnh ai. Sự thật thế nào tôi nói vậy!”. Khi về đến Quảng Nam, gặp lại người xưa và hầu hết cũng là học trò cũ, cụ căn dặn: Hôm nay với danh nghĩa một người thầy, một người bạn cũ có nhiều kinh nghiệm ở đời, tôi nói chuyện với các chú và có mấy lời khuyên các chú. Nếu chú nào có những hành động phá rối thì đừng có trách tôi sẽ lấy danh nghĩa đại diện Chính phủ Trung ương mà thẳng tay trừng trị1.
Cụ Huỳnh Thúc Kháng hành xử vì dân như vậy đến hơi thở cuối cùng. Khối óc cụ luôn nghĩ về nhân dân. Trái tim cụ đau nỗi đau dân nước, vui nỗi vui dân nước. Đời cụ thuộc về nhân dân. Cụ thanh thản ra đi giữa lòng nhân dân. Trong bài điếu văn Thương tiếc cụ Huỳnh Thúc Kháng của đại diện Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh Quảng Ngãi, đôi câu đối kết lại thật súc tích, đầy ý nghĩa:
Làm nghệ sĩ không vinh, tù Côn Lôn không nhục, khí tiết cội Tùng trơ mộ gốc
Lãnh Bộ trưởng trọn tài, quyền Chủ tịch trọn đức, tinh anh sao Vĩ chiếu ngàn thu.
P.N.S
*Phạm Ngọc Sinh: Nguyên Phó Giám đốc Sở Khoa học - Công nghệ tỉnh Quảng Nam.
1. Chương Thâu - Phạm Ngô Minh, Tuyển tập Huỳnh Thúc Kháng, Nxb Đà Nẵng, 2010.
2. Chương Thâu - Phạm Ngô Minh; sđd, Tìm chân lý với học lịch sử quan hệ thế nào, Tiếng Dân số 567 và 568 (01/3 và 4/3/1933).
3. Dẫn theo Chương Thâu - Phạm Ngô Minh, Tuyển tập Huỳnh Thúc Kháng, Nxb Đà Nẵng, 2010.
4. Dẫn theo Lâm Quang Thự: Người con đất Quảng, Nxb Đà Nẵng, 2005.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Lâm Quang Thự, Người con đất Quảng, Nxb Đà Nẵng.
2. Chương Thâu - Phạm Ngô Minh, Tuyển tập Huỳnh Thúc Kháng, Nxb Đà Nẵng, 2010.
3. Phạm Phú Phong, Lịch sử 100 năm báo chí Quảng Nam (Đề tài khoa học cấp tỉnh).
4. Phạm Ngọc Sinh (chủ biên), Góp phần tìm hiểu văn hóa Quảng Nam, Tạp chí Khoa học và Sáng tạo, 2008.
5. Phạm Ngọc Sinh (chủ biên), Về miền sông Tiên, UBND huyện Tiên Phước,