Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng với thời cuộc

30.09.2026
Ngô Văn Minh

Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng với thời cuộc

Một số văn nghệ sĩ xứ Quảng trong một chuyến viếng thăm Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng. Ảnh: Tư liệu VHNT

Huỳnh Thúc Kháng là một nhà nho, nhà tân học, nhà văn hóa, chí sĩ duy tân trong phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX, nhà chính trị - là một lãnh đạo chủ chốt ngay từ những năm đầu của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, với cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, Quyền Chủ tịch nước trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm nước Pháp (31/5 - 20/10/1946). Tấm gương nhiệt thành về tinh thần yêu nước, mẫu mực về đời sống đạo đức; tận hiến cho sự nghiệp cách mạng vì dân vì nước của cụ được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong thư gửi toàn thể đồng bào sau ngày cụ tạ thế: “Cụ Huỳnh là người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao… Cụ Huỳnh là người mà giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập”1.

Về sự nghiệp văn chương, cụ Huỳnh đã để lại một di sản khá đồ sộ, gồm thơ văn, câu đối, tuồng, xã luận và những bài bình luận về các vấn đề triết học, chính trị, xã hội, lịch sử, đạo đức. Với quan niệm của nhà Nho, cụ Huỳnh dùng văn thơ trước hết là để nói chính mình. Như lời nhà yêu nước Phan Bội Châu kể lại, trên đường kết giao đồng chí, năm 1903, cụ vào Quảng Nam, có đến thăm cụ Huỳnh ở làng Thạnh Bình. Thấy biển đề hai chữ “Hòe Âm” và đọc tập thơ Mính Viên, Phan Bội Châu đã biết được “thi ngôn chí” của tác giả và có bài thơ Đề Hòe Âm biển (Đề biển Hòe Âm) tặng cụ Huỳnh. Trong bài có hai câu: Kháng Hòe Âm biển trưng gia thế/ Tụng Mính Viên thi thức chủ ông (Xem biển “Hòe Âm” biết rõ anh là dòng gia thế/ Đọc thơ “Mính Viên” hiểu được lòng chủ nhân).

Nhưng là nhà nho chí sĩ nên vượt lên trên “thi ngôn chí”, cụ Huỳnh xem văn chương là một phương tiện truyền bá tư tưởng, là công cụ phục vụ cho công cuộc cứu dân, cứu nước. Vì vậy, dễ nhận thấy trong di sản văn thơ của cụ không có những cảm tác tiêu khiển theo lối uống rượu ngắm hoa, trông trăng thưởng gió thường thấy ở những văn sĩ phong lưu, hay ưu thời mẫn thế ở một số nhà nho yếm thế bất bình nhưng lại bất lực trước thế sự, mà chủ yếu trong văn thơ cụ là số bài thể hiện thái độ đối với thời cuộc của đất nước. Trong Phê bình và cảo luận viết vào năm 1933, Thiếu Sơn có nhận xét: “Ông Huỳnh coi văn chương chỉ là một cái phương tiện dùng được trong nhiều cái phương tiện không dùng được, để phụng sự quốc gia, mà chẳng bao giờ ông thèm quan tâm đến cái sự nghiệp văn sĩ. Không, ông Huỳnh không phải là một văn sĩ. Ta cần phải để cho ông một danh từ nào thích hiệp với ông hơn. Ông là một nhà chí sĩ vậy”. Với nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng, “không có cái văn chương nào hơn cái văn chương làm cho dân khôn nước mạnh”2.

Là một trong 3 thành viên khởi xướng phong trào Duy tân những năm 1904-1908, cụ Phan Châu Trinh giữ vai trò chủ chốt về lập thuyết và dành phần nhiều thời gian đi diễn thuyết phát động, liên kết chí sĩ duy tân các tỉnh, thì cụ Huỳnh Thúc Kháng và cụ Trần Quý Cáp giữ vai trò phát động, điều hành chung phong trào ở Quảng Nam. Những bài thơ của cụ Huỳnh thời gian này chủ yếu tập trung vào nội dung cổ động cho phong trào như vận động mở trường tân học; khuyến lập nông hội, đề xướng chung vốn lập thương cuộc; vận động sửa đổi phong tục, thực hiện nếp sống mới văn minh tiến bộ. Mở đầu là việc thông qua bài thi Chí thành thông thánh và bài phú Lương Ngọc danh sơn (tác phẩm viết chung) để “phát biểu tư tưởng bài xích khoa cử cùng lối cựu học hủ lậu”1 và hơn thế nữa, còn là lời hiệu triệu: “Trên các quan lại, dưới lớp thư sinh; Quẳng bút dậy thẳng, trao mũ đi lanh/Còn chút hơi tàn, thời đập ấm, đắm thuyền đầy hứa hẹn/ Vui gì sống sót, dẫu nát gan, vỡ óc cũng quang vinh”2. Hoặc bài ca tặng trường Phú Lâm tán dương công cuộc cải cách toàn diện do chí sĩ Lê Cơ chủ trương tại làng này: “Một, chúc thương cuộc đặng lâu/ Lợi quyền giữ lại của hầu nhiều sanh/ Hai, chúc học hành cho giỏi/ Theo người hay tìm tỏi cho nên/ Ba, chúc cái lòng cho bền/ Ai ai cũng quyết đứng trên vũ đài…”.

Bị thực dân Pháp bắt khi phong trào chống thuế nổ ra ở Quảng Nam, rồi bị Nam triều kết án đày ra Côn Đảo, từ mức án lưu đày vô thời hạn giảm xuống còn khổ sai 13 năm. Thời gian này cụ Huỳnh có sáng tác thơ, câu đối và viết 2 tác phẩm Mậu Thân dân ký biến và Khả tác lục nhưng cả 2 tác phẩm này đều bị tịch thu khi còn ở trên đảo. Huỳnh Thúc Kháng cũng viết chung với Phan Thúc Duyện vở tuồng Trưng Vương bình Ngũ Lãnh. Sau khi mãn hạn tù, cụ Huỳnh nhớ lại những bài thơ, đối liễn của mình và các bạn đồng chí, cùng một ít dật sử tai nghe mắt thấy khi ở Côn Lôn viết lại thành tác phẩm Thi tù tùng thoại. Cụ viết: “Đến cảnh tù, trăm đều [điều] tự do không còn một chút gì đến cái xu xác cũng không phải của mình, chỉ lưa có một chút tự chủ về tinh thần mà muốn an ủy cho tinh thần thì “thi văn” lại là món tu dưỡng rất thích hợp. Vậy tôi dám nói: ở tù mà dùng thi văn làm món di dưỡng tinh thần, không phong hại gì mà sự bổ ích rất rõ ràng: Trong trường học thiên nhiên 13 năm (1908-1921) cả bọn đồng thời với tôi, cả thân sĩ cho đến người dân, kẻ chết không nói, người còn mà được tha về, vẫn giữ được tấm lòng không thay đổi. Biết đâu không nhờ món nuôi tinh thần đầm thấm đó mà không tự biết”. Giống như Phan Châu Trinh khi bị bắt dẫn giải đưa đi đày ở Côn Lôn vẫn “Khẳng khái bi ca thiệt thượng tồn” (Khẳng khái ngâm nga lưỡi vẫn còn) và “Nam nhi hà sự phạ Côn Lôn” (Thân trai nào sợ cái Côn Lôn), Huỳnh Thúc Kháng khi bị giải xuống tàu ra Côn Đảo cũng có những vần thơ khẳng khái trong Bài hát lưu biệt: “Trăng trên trời có khi tròn khi khuyết/ Người ở đời đâu khỏi tiết gian nan/ Đấng trượng phu tùy ngộ nhi an/ Tố hoạn nạn hành hồ hoạn nạn…”, vẫn vững ý chí, vững niềm tin: “Dầu đến lúc núi sụp biển lồi, trời nghiêng 

đất ngả/ Tấm lòng vàng tạc đá vẫn chưa mòn/ Trăng kia khuyết đó lại tròn”. Dù “Mùi tù đã nếm cay chua đủ” nhưng ở Huỳnh Thúc Kháng vẫn luôn toát lên một tinh thần lạc quan, một ý chí không hề nao núng:“Bước đường chắc chắn sẽ dong/ Buổi mai đã hỏng, hẳn trông buổi chiều”, và: “Bà con có hỏi nhờ thưa hộ/ Lòng vẫn còn son tóc trổ huê”.

Thi tù tùng thoại là một tác phẩm văn học, nhưng cũng là một tác phẩm sử học. Đó là cuốn sử tù mà người viết là một chứng nhân, “nhân chuyện thi văn mà gởi một ít sử liệu ở trong” ngõ hầu cung cấp một “món tài liệu chân xác cho nhà làm sử”1.

Sau 13 năm bị tù đày nơi hoang đảo, trở về quê nhà Huỳnh Thúc Kháng chấp nhận cuộc sống thanh bần “Nửa cảnh cửa tre bàn lấp bụi/ Một vuông vườn quế cỏ thành cồn/ Lưa giường ngâm cũ cùng bao sách/ Kiểm điểm nằm chơi đỡ cảnh buồn”2 chứ không chịu nhận lời ra làm việc ở Viện Viễn đông Bác cổ với mức lương tháng khá hậu hĩnh do chính quyền thực dân đưa ra. Sau vì nhân lúc chính quyền thực dân Pháp đổi Phòng Tư vấn Trung Kỳ thành Viện Dân biểu Trung Kỳ, nghĩ rằng có thể dùng nghị trường làm cơ sở đấu tranh hợp pháp để bảo vệ quyền lợi cho nhân dân, cụ đứng ra ứng cử và đã trúng cử, lại được bầu làm Viện trưởng, nhưng rồi nhận thấy đấy chỉ là “cái tuồng nhân dân đại biểu dở mùa” nên cụ từ chức, chuyên tâm vào tờ báo Tiếng Dân. Những sáng tác thơ văn của Huỳnh Thúc Kháng giai đoạn này được đăng tải trên tờ báo với nhiều thể loại, bàn nhiều vấn đề và với nhiều bút danh khác nhau, nhưng tư tưởng chủ đạo là thông qua những bài viết để nói lên tiếng nói của dân và dùng hiểu biết của mình để “mở mang đường trí thức” cho dân. Đọc thơ văn Huỳnh Thúc Kháng trên Tiếng Dân, nhận thấy ở cụ sự thấu hiểu với đời sống khốn cùng của người nông dân: “Bao nhiêu nước mắt lại mồ hôi/ Cả đậu, cả khoai chữa đầy nồi/ Cha mẹ nhịn thèm, con nhịn khát/ Thảm chưa! Bụng đói lại quan đòi!” (Cảnh nhà quê); sự cùng quẫn vì thiên tai “Khóc than biết có thấu trời chăng?/ Trời cứ thinh thinh chẳng nói năng/ Xin hỏi dân này bần lại khổ/ Tai ương chồng chất mấy trăm lần!” (Dân xứ bị lụt); minh oan cho tầng lớp bị xem là thấp kém trong xã hội qua bài Có nên khinh rẻ phường chăn trâu không?, thương cảm cho những thân phận mưu sinh: “Biết chăng chăng biết, những ai lầu cao buồng kín, nệm gấm mền bông/ Năm canh thiêm thiếp giấc say nồng?/ Rao mãi tiếng thấu trời, trời già chừng mủi lòng/ Lù lù ló mặt bên phương Đông/ Soi nỗi khổ kia duy có ông!” (Bán bánh mì sớm); những người dân thấp cổ bé họng bị ức hiếp, nhũng nhiễu, vu vạ khi đến cửa quan: “Thằng này rõ thật một thằng điên/ Kiện ruộng mà không muốn mất tiền/ Vẫn biết ruộng này mua có khế/ Mà tao không xét nữa thêm phiền”, “Không biết “yêu thư” quốc cấm à!/ Sao mi dám để sách trong nhà?/ Tội này đáng tội giảo giam hậu/ Có được vân vân tao mới tha” (Câu chuyện vào cửa quan); cho đến những bài xã thuyết về những vấn đề chính trị: “Vậy thì ngày nay mà anh em bà con ta có muốn làm một việc lợi ích cho nòi giống, thì xin trông vào nơi mình trước, ai ai cũng trông vào nơi mình thì không bị ai lừa, không bị ai ngăn, hợp muôn vạn người lại thành một cái đoàn thể để chung lo việc nước nhà thì hy vọng của mình mới mong thực hiện được” (trong bài “Hy vọng của quốc dân ta ngày nay ở đâu?”, Tiếng Dân số 112, ngày 12/9/1928). Hoặc trong bài “Tự do ngôn luận”, ngay từ đầu Huỳnh Thúc Kháng đã chỉ ra thực trạng: “Xét về phương diện pháp luật thì ở nước ta, vô luận là hạng ngôn luận nào, đều là chẳng có một chút tự do nào cả”, nhưng đến cuối bài cụ vẫn khẳng quyết cái phương châm làm báo đã được định sẵn của mình: “vì rằng ta không có quyền được tự do nói những điều nên nói, mà ta lại có quyền tự do không nói những điều không nên nói”. Ngoài ra còn có nhiều bài tranh luận, phê bình về những vấn đề sử học, văn học, nghệ thuật...

Đúng như nhận định của Thiếu Sơn, Huỳnh Thúc Kháng đã dùng báo Tiếng Dân “làm cơ quan giáo dục cho quốc dân và làm phương tiện hành động về chính trị của ông”1.

Từ sau ngày báo Tiếng Dân bị Toàn quyền Đông Dương ký lệnh đóng cửa (21/4/1943) cho đến trước tháng 8/1945, cụ Huỳnh tự nhận mình trong những tháng năm này như “ổ kén giam tằm”. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Vậy là niềm mong ước suốt 40 năm của Huỳnh Thúc Kháng đã trở thành hiện thực. Cụ rất đỗi vui mừng bởi nhận thấy: “Nói về mặt quốc gia giải phóng thì độc lập ngày hai tháng 9 rõ ràng là do toàn dân Việt Nam ta tranh đấu mà được”1.

Trong lễ kỷ niệm 5 năm ngày mất của chí sĩ Phan Bội Châu, cụ nói: “Đời tôi đến đây được thấy cái kết quả mà bình sinh hai cụ [tức cụ Phan Bội Châu và cụ Phan Châu Trinh] mong ước, như thế là được rồi”2. Từ đây, thơ văn cụ dâng trào cảm xúc mừng vui, phấn khởi trước sự kiện trọng đại của lịch sử nước nhà và phần lớn được viết ra để cổ động cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Trong bài “Mừng tết độc lập”, cụ viết: “Cái tết năm nay mới lạ lùng/ Mới ngày mới tháng, mới non sông/ Dân hăm lăm triệu quyền ông chủ/ Nước bốn ngàn năm của tổ chung/ Cứu quốc lòng đà rèn một khối/ Tự do mầm ướm trổ trăm bông/ Cho hay người muốn trời chìu ấy/ Trận thắng năm nay trận cuối cùng”. Bài “Thanh xuân bất tái”, cụ kêu gọi toàn dân già trẻ gái trai đứng lên bảo vệ nền độc lập, chế độ cộng hòa, dân chủ của nước nhà: “Nắm dân quyền lôi lại giữa trời Nam/ Nước cộng hòa đã vạch rõ phương châm/ Nào xây nền nội trị, nào chống nạn ngoại xâm/ Quyền tự quyết một dằm hăng hái tới/ Trẻ hùng dũng mà già càng khẳng khái/ Không sức gì ngăn lại ngọn triều cương”. Ngoài ra, cụ còn có những bài thơ tặng, kêu gọi các giới thi đua yêu nước. Ngay cả trong những câu đối viết tặng các cơ quan, địa phương đón tết, cụ cũng đưa vào đó những nội dung thể hiện sự hân hoan phấn khởi trước cái tết độc lập của nước nhà: “Hương khói rước Xuân về, con Lạc cháu Hồng, muôn miệng vái chào hồn nước tổ/ Trà trầm mừng tết mới, sao vàng cờ đỏ, ngàn nêu cao ngất cột quyền dân” (câu đối cho nhân dân huyện Hương Trà); hoặc “Tuyên ngôn theo nguyên tắc “nhân quyền”, xuân tự do rước thẳng lên đài, dục trống rung chuông, rập nhịp theo mừng năm Tết mới/ Truyền tin đúng tinh thần “dân chủ”, ma thuộc địa xua ra khỏi cửa, tháo xiềng cởi xích, đều tay tẩy sạch vết nô xưa” (câu đối dán Sở Tuyên truyền)3. Kết thúc bài “Kính cáo đồng bào phụ lão kháng chiến thư” bằng Hán văn kêu gọi đồng bào phụ lão kháng chiến, cụ viết: “Đại đoàn kết nhất khối chi tiềm lực, miễn chiên miễn chiên!/ Độc lập quốc vạn tuế chi vinh quang, vĩ thậm! vĩ thậm!” (Đoàn kết chặt chẽ một khối, gắng lên gắng lên!/ Độc lập vinh quang muôn năm, đẹp lắm đẹp lắm!)1.

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Huỳnh có những bài thơ, câu đối thể hiện tình cảm quý mến đặc biệt về tài năng, đức độ của Người, như câu đối mừng sinh nhật Hồ Chủ tịch ngày 19/5/1946: “Mưa Âu gió Mỹ, càng xông pha, khí phách càng kiên cường, năm mươi sáu hoa giáp chẳng già đâu, hai tay rinh nổi quyền dân, xốc vác non sông dồn một gánh/ Cờ đỏ sao vàng, cùng tín ngưỡng tinh thần cùng phấn khởi, hăm lăm triệu quốc bào đương ngóng đấy, ba chén nâng cao rượu thọ, vang lừng trời biển tiếng muôn năm”2. Hoặc trong “Kính cáo đồng bào phụ lão kháng chiến thư”: “Hồ Chí Minh tiên sinh, chân chính ái quốc đại chí sĩ, lịch nghiệm cách mạng lão chuyên gia/ Túc biến ngũ châu, nhãn cao nhất thế/ Nhận diện thấu toàn cục, tĩnh tứ tiên cơ” (Hồ Chí Minh tiên sinh, là bậc yêu nước đại chí sĩ, là nhà cách mạng lịch nghiệm đại chuyên gia/ Chân đi khắp năm châu; mắt trông xa vạn dặm/ Nhận rõ thời cục; lặng dò tiên cơ)3.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng tạ thế ngày 21/4/1947, nhưng “cái chí vì nước vì nòi của cụ vẫn luôn luôn sống mạnh mẽ trong lòng 20 triệu đồng bào chúng ta” (lời Hồ Chủ tịch). Ngoài sự nghiệp chính trị, cụ Huỳnh còn để lại một sự nghiệp văn chương. Thơ văn của cụ là thơ văn của một nhà chí sĩ gắn với những bước ngoặt trong cuộc đời cụ, cũng là gắn thời cuộc nước nhà. Trong những năm 1904 - 1908, cụ Huỳnh dùng thơ văn để cổ động phong trào Duy tân; trong 13 năm bị tù đày ở Côn Đảo (1908-1921), cụ dùng thơ văn để nuôi dưỡng tinh thần; trong những năm 20 của thế kỷ XX, cụ dùng thơ văn để nói lên tiếng nói của dân, giữ lấy cái gốc tinh thần đạo đức của dân tộc, đồng thời dung hợp với tinh hoa văn hóa nhân loại; vào những năm cuối đời (1945 - 1947), trong thơ văn của mình, cụ Huỳnh thể hiện một tinh thần phấn khởi, lạc quan khi nước nhà đã được độc lập, chế độ dân chủ đã được thực hiện, và cụ đã dùng thơ văn để cổ động cho công cuộc kháng chiến kiến quốc. Với sự nghiệp văn chương của mình, cụ Huỳnh đã có nhiều đóng góp cho nền văn học yêu nước và cách mạng nửa đầu thế kỷ XX.

N.V.M

*Ngô Văn Minh: PGS, TS, nguyên Trưởng khoa Dân tộc và Tôn giáo, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh khu vực III

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.358.

2. Dẫn theo Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia: Tổng tập văn học Việt Nam. Nxb KHXH, Hà Nội, 2000, tập 22, tr.1130.

3. Huỳnh Thúc Kháng: Niên phổ và Thơ trả lời Kỳ Ngoại hầu Cường Để. Nxb Văn hóa - Thông tin, 2000, tr.36.

4. Theo bản dịch của Phan Võ.

5. Mính Viên: Thi tù tùng thoại. Nxb Nam Cường, Sài Gòn, 1951, các trang 272, 28, 29, 109, 224, 272.

6. Mính Viên: Thi tù tùng thoại. Nxb Nam Cường, Sài Gòn, sđd, 1951, tr.257.

7. Theo Thiếu Sơn trong bài “Phê bình và cảo luận” in trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 22, tr.1129 và tr.1128.

8. Dẫn lại Nguyễn Q. Thắng: Huỳnh Thúc Kháng con người và thơ văn. Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản, Sài Gòn, 1972, tr.219.

9. Dẫn lại Nguyễn Q. Thắng: Huỳnh Thúc Kháng con người và thơ văn. Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản, Sài Gòn, 1972, tr.219.

10. Những bài thơ này tác giả bài viết khai thác tại Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng hồi đầu những năm 1990.

11. Bản dịch của Nguyễn Văn Hạp. Dẫn theo Chương Thâu: Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng (chọn lọc). Nxb Đà Nẵng, 1980, tr.148, 156.

12. Dẫn theo Trần Viết Ngạc: Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng nghĩ và viết về chủ nghĩa Mác. Bài đăng tạp chí Đất Quảng, số 45, năm 1987, tr.99.

13. Bản dịch của Nguyễn Văn Hạp. Dẫn theo Chương Thâu: sđd, tr.148, 156.