Hoàng Sa, đêm chờ…

Con tàu vỏ gỗ vẽ một vệt nước trắng xóa, từ đảo Quang Ảnh thuộc quần đảo Hoàng Sa chạy ngược về phía các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Hòa. Người thuyền trưởng trẻ tuổi có vẻ không lưu tâm việc mũi tàu ngày càng “dí” thẳng về hòn đảo nổi một cách đáng sợ...
Ngó Hai Trụ
Hoàng hôn ở Hoàng Sa buông xuống thật chậm. Tiếng lục cục từ cánh cửa gỗ va vào thành tàu khiến tôi thoáng chút lo âu rằng tiếng động này sẽ vang xa tới đảo. Hòn đảo trước mũi tàu mang tên Quang Ảnh. Thập niên 80, đây là thủ phủ của tàu câu mực Tam Giang và ngư dân đánh lưới chuồn, câu bủa ở Thanh Khê.
- Chu cha, cá thì khỏi nói, hồi nớ ra đánh mấy bữa là đầy ghe!
Tôi nhớ, những lần gặp lão ngư dân Trần Đình Chơi ở Thanh Khê, cứ nhắc tới đảo Hai Trụ thì ông lại thốt lên như vậy.
Giờ đây, phần lớn người dân thành phố Đà Nẵng “thấy” đặc khu Hoàng Sa qua những tấm ảnh chụp trước năm 1975. Còn trong chuyến đi xuôi ngược với ngư dân bám biển Hoàng Sa cách đây chưa lâu, tôi đã thấy đảo ở khoảng cách chỉ vài hải lý.
Tôi ngồi thụt sâu trong cabin, nhìn hòn đảo qua ô cửa gỗ để tránh ánh mắt từ trong đảo. Hòn đảo với những cột ăng-ten, bóng thám không màu trắng lốp. Tôi nhìn chằm chặp để cố ghi nhớ, rồi chụp ảnh bằng ống kính tiêu cự dài. Liệu “nó” có hiện đại tới mức nhìn thấy điều gì đó khác thường đang thấp thoáng qua ô cửa gỗ của con tàu đánh cá Việt Nam? Ý nghĩ đó cứ theo đuổi tôi suốt chuyến đi.
Ngư dân Lê Đức Việt, thuyền trưởng tàu QNa 90144 TS, hồi tháng 6 vừa rồi vẫn gọi là đảo Hai Trụ. Tôi khá ngạc nhiên, vì trên tàu gắn nhiều thiết bị định vị hiện đại, màn hình ghi rõ tên đảo là Quang Ảnh. Lý do ngư dân gọi là đảo Hai Trụ bắt nguồn từ thập niên 80. Khi đó, tàu đánh cá chạy từ Tam Giang, Tam Quang ra đảo Lý Sơn, rồi lấy hướng Đông Bắc làm chuẩn, đi tiếp ra Hoàng Sa. Sau khoảng 30 tiếng đồng hồ chạy máy, một ngư dân được cử trèo lên nóc cabin để làm nhiệm vụ “mông đảo” - tức chổng mông nhìn ngó chằm chằm về hướng Đông. Tàu đánh cá không có thiết bị định vị, ngư dân phải luôn tìm những hòn đảo có núi, có trụ để làm chuẩn. Vì đảo Quang Ảnh có 2 trụ rất cao, nên ngư dân có thể thấy đảo khi cách khoảng 15 hải lý, rồi lấy đó làm mốc để xác định vị trí và hướng đi của tàu.
Tại Nhà Trưng bày Hoàng Sa, đảo Quang Ảnh cũng là điểm nhấn luôn được các hướng dẫn viên thuyết trình. Còn trong câu chuyện của những người dân chài, hòn đảo ấy luôn được gọi bằng cái tên dân dã: đảo Hai Trụ.
Qua Tri Tôn
Rong ruổi ở Hoàng Sa, điều tưởng chừng dễ nhất lại thành khó nhất: tiếp cận đảo Tri Tôn - hòn đảo gần bờ biển thành phố Đà Nẵng nhất. Nếu tàu khách cao tốc rời cảng Tiên Sa thì chỉ 5 - 6 giờ hành trình là tới nơi.
Trước năm 2020, việc đi biển và ngắm đảo Tri Tôn “dễ như húp cháo”. Sau Tết, quanh đảo có rất nhiều luồng cá ngừ, cá nục, cá nhám. Ngư dân Đà Nẵng, Quảng Ngãi cho tàu bao quanh đảo để đánh bắt. Đêm xuống, tiếng trên Icom râm ran: “Dễ sợ, như thành phố nổi, tàu ghe cả ngàn chiếc!”.
- Vô… Vô sát nữa...
Đó là tiếng hô của thuyền trưởng Nguyễn Thanh Tiến, người ở cửa biển Kỳ Hà. Anh là một trong những người thường cho tàu áp sát đảo Tri Tôn để đánh bắt cá; thường cho tàu chở cá từ phía đông bắc chạy một vạch thẳng sát Tri Tôn để về cửa biển Kỳ Hà thay vì né đảo 10 hải lý...
Đi trên tàu đánh cá của ngư dân và băng qua đảo Tri Tôn, tôi cảm thấy tim mình bồi hồi khi chứng kiến hình ảnh bà con thể hiện tình yêu biển, đảo. Xúc động nhất là khi ra đến đây, cờ Tổ quốc lại được giương cao. Có người lấy lá cờ mới để sẵn trên tàu ra thay cho cờ cũ...
Vào giữa thập niên 80, đảo Tri Tôn lúc đó như làng chài của ngư dân thành phố Đà Nẵng. Anh em ngư dân Huỳnh Khôi, Huỳnh Hiệp, sau khi hoàn thành nghĩa vụ tình nguyện ở Campuchia trở về đã bắt đầu gầy dựng lại nghiệp biển.
Vì là lính chiến nên đâu sợ chi mấy con tàu rọ lạch quạch, bay lên, đáp xuống trên ngọn núi nhỏ, thấp trên đảo Tri Tôn. Cứ chiều hôm, ông Hiệp, ông Khôi nói với người em là Huỳnh Sanh cho ngư dân buông 15 chiếc thúng ở gần đảo Tri Tôn. Ngư dân lắc lư trên thúng để câu mực. Mãi tới sáng thì thúng trôi dạt và tấp cả vào bờ của đảo Tri Tôn. Ông Hiệp cầm lái tàu chạy một vòng, vớt hết thúng, coi như xong một phiên câu mực đêm ở đây.
Nghề câu mực thời đó xem như hái ra tiền. Mỗi phiên biển, ngư dân đi bạn kiếm được hơn một chỉ vàng. Nhưng nghề câu mực hồi ấy là một trong những nghề nguy hiểm nhất trên đại dương. Ngư dân ra khơi trên chiếc tàu đánh cá thô sơ, thúng câu mực loại nhỏ, biển Hoàng Sa thỉnh thoảng lại nổi một cơn dông trong đêm, rồi có ngư dân mất tích.
Nhiều nhân chứng từng lên đảo Tri Tôn kể, trên đảo có dải cát trắng, một cánh rừng nhỏ, chiếc máy bay chuồn chuồn bay lên, đáp xuống. Trước năm 1990, bà con ngư dân đi tự do trên đảo và không gặp chuyện gì. Khó khăn nhất ập đến từ sau năm 2000, tàu cá của ngư dân Việt Nam khi hành trình cắt ngang phải giữ khoảng cách 10 hải lý, nếu không sẽ nhận được tín hiệu cảnh báo!
Tôi có mặt trên tàu cá của ông Phạm Văn Thanh, hành trình cắt ngang qua Tri Tôn vào tháng 5/2025, nhưng không thể tiến gần đảo dưới 10 hải lý. Từ trên tàu nhìn tới đảo Tri Tôn chỉ thấy thấp thoáng những quả bóng thám không màu trắng.
Năm 2026, tôi ghé thăm 3 anh em ngư dân Huỳnh Sanh, Huỳnh Hiệp, Huỳnh Khôi. Họ bảo bây giờ tình hình áp sát đảo khó khăn hơn trước. Có lúc phải di chuyển cách đảo tới 25 hải lý...
Mong… đêm!
Tôi kể câu chuyện về đảo Tri Tôn, Quang Ảnh (Hoàng Sa) từ chuyến đi thực địa trên tàu đánh cá của bà con ngư dân tỉnh Quảng Ngãi. Ban đầu tôi dự định đi trên tàu của ngư dân ở cửa biển Kỳ Hà. Nhưng rà lại vệt hành trình VMS của một số tàu, tôi nhận ra, để có thể viết một ký sự hay, đầy chất phóng khoáng, chỉ có thể bám theo tàu làm nghề lặn đêm ở xã Bình Châu (nay là xã Đông Sơn), tỉnh Quảng Ngãi. Bởi vì nghề lặn có một đặc điểm là thuyền trưởng bằng mọi giá phải cho tàu tiến tới sát rạt đảo nổi, càng gần càng tốt.
Tại quần đảo Hoàng Sa, mỗi khi mờ tối, tàu bắt đầu tiến về gần đảo.
- Độ sâu 45 mét, 42 mét, 40 mét, nhảy nước!
Tiếng thuyền trưởng vang lên. Năm ngư dân mặc đồ nhái phóng xuống biển và mang theo đèn pin lặn. Rồi càng về khuya, con tàu càng vào cận đảo. Tín hiệu độ sâu lúc đó thông báo chỉ còn 20 mét... 15 mét… 10 mét.
Rồi tới 4 giờ 30 phút sáng hôm sau, đoàn tàu lặn đêm bắt đầu rút. Trên đảo lúc đó vẫn le lói ánh điện dọc tuyến đường ven biển dẫn tới bến tàu, điện trên tuyến đường du lịch của đảo Duy Mộng.
Ban ngày, khi ngư dân ngủ thì tôi tự làm người canh gác. Chiếc máy Yanmar ngắt lịm, trong khoang ca bin vang lên tiếng ngáy khò khò. Tiếng máy tàu công suất 850 mã lực vang lên suốt đêm. Vậy nên khi máy tắt, cảm giác con tàu như chiếc lá nhẹ tênh đang trôi trên làn nước trong xanh.
Tất cả đều ngủ say, chỉ có hai cái thức. Tôi và chiếc máy Icom.
Trước khi ngủ, ông thuyền trưởng luôn đặt “Icom sống”. Tức là để volume ở mức vừa phải. Nếu có một vụ đâm va hay “sự cố” nào đó xảy ra thì từ phía đó sẽ hét to, thông báo cho cả cộng đồng.
Rời đảo…
Ra Hoàng Sa, mọi người luôn mong đêm buông xuống. Vì lúc đó những chiếc tàu vỏ gỗ sẽ “tàng hình” giữa biển cả. Một phiên biển ở Hoàng Sa thường kéo dài từ 20 - 22 ngày. Đêm cuối cùng rời đảo, các ngư dân cho tàu tiến vô sát đảo Duy Mộng. Trước khi con tàu rời Hoàng Sa về đất liền, thuyền trưởng bao giờ cũng cầm đèn pin xuống soi dưới hầm cá sống. Tàu đánh cá làm nghề lặn đêm ở Hoàng Sa rất thú vị và khác biệt.
Một hầm thuyền được đục lỗ để nước mặn ra vào thoải mái. Ngư dân bắt được chình biển, tôm mũ ni, tôm hùm, cá dớn mũ thì sẽ nuôi sống tại đây. Có tàu đóng thêm hầm phía sau để nuôi hải sâm. Phần lớn hải sản tươi sống được bán tại thành phố Đà Nẵng.
Ngư dân Nguyễn Hữu Quang chỉ vô 60 con tôm mũ ni và cho biết phần lớn bắt ở đảo Duy Mộng. Hồi trước, chỉ cần quăng tấm lưới cua ngay sát đảo Duy Mộng thì có thể bắt được hơn 100 con cua huỳnh đế. Nếu bây giờ còn nhiều cua như vậy thì ngư dân ra bám biển Hoàng Sa giàu to.
Nhiều lần đến thăm Nhà Trưng bày Hoàng Sa, tôi nghe các cô hướng dẫn viên giới thiệu với khách tham quan rằng, cụ Huỳnh Văn Thính là người từng làm việc tại đảo Duy Mộng và hiện nay vẫn còn sống.
Khi kể những câu chuyện về Hoàng Sa, ví như những câu chuyện trong bài viết này, tôi muốn nhấn mạnh, muốn nói thêm rằng: Hoàng Sa luôn là một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc! Bây giờ tàu bè hiện đại rồi, nên Hoàng Sa “gần” hơn, sát rạt Đà Nẵng!...
L.V.C