Một cuộc hội ngộ và những câu hỏi cho mỹ thuật khu vực

Cắt băng khai mạc Triển lãm Mỹ thuật khu vực V lần thứ 30 năm 2026. Ảnh: Fanpage Hội VHNT tỉnh Gia Lai
Triển lãm Mỹ thuật khu vực V - Nam miền Trung và Tây Nguyên lần thứ 30 vừa diễn ra tại Gia Lai từ ngày 6 đến 15/8 vừa rồi. 30 lần tổ chức là một chặng đường đủ dài để triển lãm trở thành điểm hẹn nghề nghiệp của nhiều thế hệ nghệ sĩ và phần nào cho thấy diện mạo sáng tác mỹ thuật của khu vực. 30 năm cũng đủ dài để chúng ta không chỉ nhìn vào số lượng tác giả, tác phẩm hay những giải thưởng. Điều tôi quan tâm hơn là sau từng ấy năm, chất lượng sáng tác đã chuyển động đến đâu? Triển lãm khu vực hôm nay còn có thể làm gì nhiều hơn cho người sáng tác? Việc tuyển chọn, đánh giá tác phẩm có cần thay đổi? Và trước những biến động của đời sống, của không gian văn hóa khu vực, người nghệ sĩ đang thay đổi như thế nào trong chính thực hành của mình?
Những câu hỏi ấy, với tôi, không nhằm phủ nhận những gì triển lãm đã làm được. Ngược lại, chính vì đây vẫn là một hoạt động có ý nghĩa đối với mỹ thuật địa phương, tôi nghĩ đã đến lúc cần nhìn vào nó với những yêu cầu cao hơn.
Một cuộc gặp nghề nghiệp vẫn cần thiết
Đời sống mỹ thuật tại nhiều địa phương hiện vẫn có khoảng cách đáng kể so với Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Không chỉ ở thị trường nghệ thuật, khoảng cách còn nằm ở gallery, bảo tàng, không gian trưng bày, hoạt động giám tuyển, lý luận - phê bình và những cơ hội trao đổi nghề nghiệp.
Trong hoàn cảnh đó, triển lãm mỹ thuật khu vực vẫn rất cần thiết. Với nhiều nghệ sĩ địa phương, đây là một trong số ít dịp tác phẩm được đặt trong một không gian rộng hơn phạm vi quen thuộc của mình. Tác phẩm của nhiều tác giả, nhiều thế hệ, nhiều địa phương cùng hiện diện và chính sự đứng cạnh nhau ấy tạo nên một sự đối chiếu cần thiết đối với người làm nghề.
Triển lãm lần thứ 30 quy tụ 257 tác phẩm của 217 tác giả đến từ Gia Lai, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Đắk Lắk và Khánh Hòa. Hội họa vẫn chiếm số lượng lớn, bên cạnh đồ họa, điêu khắc và những tìm tòi khác nhau về vật liệu, hình thức biểu đạt.
Hội đồng nghệ thuật Hội Mỹ thuật Việt Nam trao giải A cho nhà điêu khắc Lê Trọng Nghĩa (Gia Lai) với tác phẩm Nở trong cấu trúc; giải B cho họa sĩ Thân Trọng Dũng (Đà Nẵng) với Sau cánh màn nhung. Ba giải C thuộc về Nguyễn Văn Chung, Hồ Thị Xuân Thu (Gia Lai) và Bùi Văn Quang (Khánh Hòa); ba giải Khuyến khích thuộc về Trần Tâm, Vũ Hữu Chung (Đà Nẵng) và Phạm Văn Hải (Đắk Lắk). Giải Tác giả trẻ được trao cho nhà điêu khắc Hà Thị Dư (Quảng Ngãi) với tác phẩm Bản hùng ca Tây Nguyên. Hội đồng cũng giới thiệu 11 tác phẩm của 11 tác giả là hội viên địa phương, cộng tác viên dự xét Giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam.
Giải thưởng là một sự ghi nhận cần thiết. Nhưng với người sáng tác, điều đáng quan tâm sau một triển lãm không chỉ là ai được giải. Quan trọng hơn là mình nhìn thấy điều gì từ tác phẩm của đồng nghiệp và từ chính tác phẩm của mình: một cách nghĩ mới, một ngôn ngữ đang hình thành, một giới hạn cần vượt qua hay đôi khi là nhận ra mình đã ở quá lâu trong một cách làm quen thuộc.
Từ phong trào đến yêu cầu chuyên môn
Từ ý nghĩa của một cuộc gặp nghề nghiệp, triển lãm khu vực cũng đặt ra một vấn đề rộng hơn: làm thế nào để hoạt động này vừa duy trì được sức sống phong trào, vừa từng bước nâng cao chất lượng chuyên môn? Triển lãm khu vực từ lâu mang cả hai tính chất: phong trào và nghề nghiệp. Tôi nghĩ không nên đặt hai điều này trong thế đối lập.
Tính phong trào đã giúp duy trì hoạt động mỹ thuật ở các địa phương trong nhiều năm. Người làm nghề có nơi gặp nhau, tác phẩm có cơ hội đến với công chúng, những tác giả ít điều kiện triển lãm vẫn có một sân chơi chung. Ở những nơi còn thiếu các thiết chế nghệ thuật chuyên nghiệp, giá trị ấy là có thật.
Nhưng nếu sau 30 lần tổ chức mà triển lãm vẫn chủ yếu dừng ở việc tập hợp đông đảo tác giả và tác phẩm thì có lẽ chưa đủ. Cùng với việc duy trì phong trào, cần từng bước nâng chuẩn nghề nghiệp.
Qua nhiều kỳ triển lãm, có một thực tế khá dễ nhận thấy: một số tác giả thường xuyên có tác phẩm được đánh giá cao và nhận giải. Có thể có nhiều cách nhìn về hiện tượng này, nhưng từ góc độ người sáng tác, tôi thấy nó cũng phản ánh một độ chênh có thật trong chất lượng và chiều sâu thực hành.
Không phải tác phẩm nào được làm công phu cũng là tác phẩm tốt. Nhưng một tác phẩm có sức nặng hiếm khi được hình thành từ một ý tưởng vội vàng. Đằng sau nó thường là một quá trình tích lũy: tìm kiếm ngôn ngữ, thử nghiệm và loại bỏ, làm chủ vật liệu, tự nghi ngờ chính mình rồi làm lại.
Có người làm tác phẩm cho một kỳ triển lãm. Có người đi đến triển lãm bằng một quá trình sáng tác đã kéo dài nhiều năm. Khoảng cách đôi khi nằm ở đó.
Vì vậy, điều đáng suy nghĩ không phải chỉ là tại sao một số tác giả nhiều lần được giải, mà là tại sao sau nhiều năm khoảng cách giữa những thực hành được đầu tư sâu với mặt bằng chung vẫn còn khá rõ.
Câu hỏi này trước hết dành cho chính người sáng tác. Nhưng tôi nghĩ nó cũng liên quan đến cách tổ chức, tuyển chọn và định hướng chuyên môn của triển lãm.
Hội đồng nghệ thuật cũng cần chuyển động
Nếu chất lượng tác phẩm là vấn đề cốt lõi, thì cách thức tuyển chọn và đánh giá cũng là một phần không thể tách rời. Hội đồng nghệ thuật Hội Mỹ thuật Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong việc xét chọn và trao giải. Mỗi lựa chọn không chỉ ghi nhận một tác phẩm mà, ở mức độ nhất định, còn cho thấy những giá trị và quan niệm nghệ thuật đang được đề cao.
Vì vậy, yêu cầu đổi mới không chỉ đặt ra với người sáng tác. Hội đồng cũng cần có sự luân phiên, bổ sung các thế hệ và góc nhìn khác nhau. Kinh nghiệm của những nghệ sĩ đi trước rất cần thiết, nhưng nghệ thuật luôn vận động; vật liệu, phương thức biểu đạt và quan niệm sáng tạo cũng liên tục thay đổi. Nếu thành phần Hội đồng ít thay đổi trong thời gian dài, một hệ thẩm mỹ quen thuộc cũng dễ được duy trì qua nhiều kỳ xét chọn.
Theo tôi, trẻ hóa Hội đồng trước hết là trẻ hóa cách nhìn, chứ không đơn thuần là tuổi tác. Sự kết hợp giữa kinh nghiệm nghề nghiệp với những góc nhìn mới sẽ giúp việc đánh giá rộng mở hơn, nhất là trước những thực hành nghệ thuật đang ngày càng đa dạng.

Một gian trưng bày tại Triển lãm Mỹ thuật khu vực V lần thứ 30. Ảnh: Fanpage Hội VHNT Gia Lai
Cùng với đó, tuyển chọn cần chặt chẽ hơn và trưng bày cần được xem đúng như một phần của chuyên môn. Không gian, ánh sáng, khoảng cách và tương quan giữa các tác phẩm đều ảnh hưởng trực tiếp đến cách tác phẩm được tiếp nhận. Nâng chất lượng triển lãm, vì thế, không chỉ là chọn được tác phẩm tốt mà còn là tạo được một không gian xứng đáng cho tác phẩm.
Công chúng và một không gian cần được duy trì
Từ câu chuyện chuyên môn, một vấn đề khác cũng đáng được nhìn nhận là công chúng và không gian nghệ thuật. Một tín hiệu đáng mừng ở triển lãm lần này là công chúng đến xem khá đông. Điều đó cho thấy nhu cầu thưởng thức mỹ thuật ở địa phương vẫn còn đó. Có lẽ vấn đề không hoàn toàn nằm ở chuyện công chúng “chưa hiểu” hay “chưa gần” nghệ thuật, mà còn ở chỗ họ chưa có nhiều cơ hội để thường xuyên đứng trước những tác phẩm nguyên bản.
Không ai tự nhiên trở thành công chúng nghệ thuật. Thói quen xem và khả năng cảm thụ được hình thành từ nhiều lần tiếp xúc: xem triển lãm, gặp nghệ sĩ, nghe một cuộc trao đổi, tham gia workshop, hoặc đơn giản là có một không gian nghệ thuật để thỉnh thoảng bước vào.
Một đời sống nghệ thuật cần tác phẩm, nhưng cũng cần một nơi để tác phẩm và công chúng thường xuyên gặp nhau.
Địa giới mới và những khả năng mới cho sáng tác
Triển lãm Mỹ thuật khu vực V lần thứ 30 diễn ra vào một thời điểm khá đặc biệt khi bản đồ hành chính của khu vực vừa thay đổi. Đà Nẵng hôm nay mang thêm không gian văn hóa của Quảng Nam; Gia Lai kết nối Tây Nguyên với duyên hải Bình Định; Quảng Ngãi với Kon Tum, Đắk Lắk với Phú Yên, Khánh Hòa với Ninh Thuận.
Nhìn từ nghệ thuật, tôi quan tâm không chỉ đến việc địa giới rộng hơn mà đến việc những không gian văn hóa vốn khác nhau nay được đặt gần nhau hơn.
Trong một địa phương có thể cùng hiện diện núi và biển, cao nguyên và duyên hải, văn hóa bản địa Tây Nguyên và văn hóa làng Việt miền Trung, di sản Champa, tuồng, làng nghề, đời sống đô thị và những biến đổi đương đại. Đó là một nguồn chất liệu lớn cho sáng tác.
Nhưng chất liệu văn hóa và ngôn ngữ nghệ thuật là hai chuyện khác nhau.
Một nhà rông, tượng nhà mồ, tháp Chăm, gương mặt tuồng hay hình ảnh biển không tự thân tạo nên bản sắc chỉ vì chúng xuất hiện trong tác phẩm. Nếu chỉ đưa những dấu hiệu đặc trưng của địa phương vào tranh tượng, tác phẩm rất dễ dừng lại ở minh họa văn hóa.
Tôi vẫn nghĩ bản sắc nằm ở tầng sâu hơn.
Những gì thuộc về vùng đất phải đi qua trải nghiệm của người nghệ sĩ, qua ký ức, cảm xúc, nhận thức và cả quá trình lao động với hình thức, để cuối cùng trở thành cấu trúc, nhịp điệu, màu sắc, bề mặt, vật liệu hay cách tổ chức không gian của riêng người ấy.
Người nghệ sĩ có thể mang theo ký ức nơi mình thuộc về, nhưng không thể chỉ lặp lại hình ảnh của nơi ấy.
Bởi vậy, điều đáng chờ đợi từ những địa giới mới không phải là trên tác phẩm sẽ có thêm bao nhiêu biểu tượng của núi, biển, Tây Nguyên hay duyên hải. Điều đáng chờ đợi là những cuộc tiếp xúc văn hóa ấy có làm thay đổi cách nhìn của người nghệ sĩ hay không.
Cùng với sự thay đổi địa giới, giao lưu mỹ thuật cũng cần được mở rộng. Ngoài triển lãm thường niên, có thể có những triển lãm đi qua nhiều địa phương, trại sáng tác liên vùng, chương trình lưu trú nghệ sĩ, workshop, tọa đàm chuyên môn hay những dự án hợp tác dài hơn.
Điều quan trọng không phải tổ chức thật nhiều hoạt động, mà tạo được những cuộc gặp có khả năng tác động trở lại quá trình sáng tác.
Sau 30 lần triển lãm…
30 lần tổ chức là một chặng đường đáng trân trọng. Và chính vì trân trọng chặng đường ấy, tôi nghĩ triển lãm khu vực cần tiếp tục thay đổi: tuyển chọn kỹ hơn, cách nhìn rộng hơn, trưng bày chuyên nghiệp hơn, lý luận - phê bình hiện diện nhiều hơn và những cuộc giao lưu đi sâu hơn vào nghề nghiệp.
Nhưng tất cả những điều đó mới chỉ tạo nên môi trường. Cuối cùng, chất lượng của một đời sống mỹ thuật vẫn bắt đầu từ từng người sáng tác.
Không ai có thể làm thay người nghệ sĩ công việc tìm kiếm ngôn ngữ của mình. Hội đồng có thể chọn hoặc không chọn một tác phẩm; giải thưởng có thể đến hoặc không đến. Sau mỗi kỳ triển lãm, người làm nghề vẫn phải trở về với chính công việc của mình, tự hỏi tác phẩm hôm nay đã đi thêm được gì so với tác phẩm của mình trước đó.
Và trước một không gian văn hóa đang mở rộng, nơi núi và biển, cao nguyên và duyên hải, những vùng đất và những ký ức đang có thêm cơ hội gặp nhau, có lẽ câu hỏi quan trọng hơn cả vẫn là: Chúng ta sẽ chuyển hóa những gì mình đang sống, đang nhìn thấy và đang thuộc về như thế nào để nó thực sự trở thành tiếng nói nghệ thuật của chính mình?
L.T.N