KỶ NIỆM 150 NĂM NGÀY SINH CỤ HUỲNH THÚC KHÁNG (01/10/1876 – 01/10/2026): Huỳnh Thúc Kháng - một nhân cách lớn đi qua những biến động của thời đại

28.09.2026
Hoàng Hương
Có những con người được lịch sử nhớ đến bởi những chức vụ họ từng đảm nhiệm, những sự kiện họ từng tham dự. Nhưng cũng có những con người được nhớ đến trước hết bởi nhân cách. Cụ Huỳnh Thúc Kháng là một người như thế.

KỶ NIỆM 150 NĂM NGÀY SINH CỤ HUỲNH THÚC KHÁNG (01/10/1876 – 01/10/2026): Huỳnh Thúc Kháng - một nhân cách lớn  đi qua những biến động của thời đại

Chân dung Cụ Huỳnh Thúc Kháng. Ảnh: Tư liệu

Cụ Huỳnh Thúc Kháng sinh ngày 1/10/1876 tại làng Thạnh Bình, vùng đất Quảng Nam giàu truyền thống hiếu học và yêu nước, Huỳnh Thúc Kháng trưởng thành trong nền học vấn Nho học, đỗ Giải nguyên năm 1900, đỗ Tiến sĩ năm 1904. Nhưng con đường của một người đỗ đạt, theo lẽ thường, có thể là bước vào chốn quan trường để tìm công danh. Cụ đã chọn một con đường khác: đem học vấn và tài năng của mình dấn thân vào việc nước, việc dân.

Một trăm năm mươi năm sau ngày Cụ ra đời, điều đáng nhớ về Huỳnh Thúc Kháng không chỉ nằm ở những danh xưng quen thuộc: chí sĩ yêu nước, nhà báo, nhà hoạt động chính trị, Quyền Chủ tịch nước. Đằng sau những danh xưng ấy là một con người đã đi qua gần như toàn bộ những bước chuyển lớn của xã hội Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX.

1. Huỳnh Thúc Kháng sinh ra từ nền văn hóa Nho học nhưng không khép mình trong thế giới của sách vở cũ.

Sau khi đỗ đạt, Cụ cùng Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và những người đồng chí hướng tìm đường canh tân đất nước. Phong trào Duy Tân ở Quảng Nam mà Cụ tham gia không chỉ đặt vấn đề giành lại độc lập bằng những hành động chính trị trực tiếp, mà hướng vào những việc căn bản hơn: khai dân trí, chấn dân khí, phát triển dân sinh; đề cao thực học, học chữ Quốc ngữ, mở trường, phát triển thương nghiệp và thực nghiệp.

Ở đây có một Huỳnh Thúc Kháng rất đáng được nhìn lại.

Đó là một nhà Nho nhưng không bảo thủ; một người trọng truyền thống nhưng không quay lưng với cái mới; một trí thức xuất thân từ khoa cử nhưng sớm nhận ra rằng muốn thay đổi vận mệnh dân tộc thì trước hết phải thay đổi năng lực của chính người dân.

Từ cách nghĩ ấy, việc cứu nước không chỉ là chuyện của những người làm chính trị. Nó bắt đầu từ một người dân biết đọc, biết học, biết suy nghĩ, biết làm ăn và biết ý thức về quyền lợi của mình.

Có thể nói, chính trong phong trào Duy Tân, tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng đã vượt khỏi khuôn khổ của một nhà Nho yêu nước để trở thành tư tưởng của một trí thức hướng về xã hội hiện đại.

Năm 1908, phong trào Duy Tân và phong trào chống thuế ở Trung Kỳ bị đàn áp. Huỳnh Thúc Kháng bị bắt và đày ra Côn Đảo. Gần mười ba năm lao tù là một trong những thử thách lớn nhất của cuộc đời Cụ.

Nhưng chính ở nơi tưởng như chỉ có thể làm con người kiệt quệ ấy, phẩm chất trí thức của Huỳnh Thúc Kháng lại được bộc lộ rõ hơn.

Cụ đọc, học, suy ngẫm, làm thơ, ghi nhớ những điều mắt thấy tai nghe về cuộc sống của những người tù chính trị. Sau này, những trải nghiệm ấy được thể hiện trong Thi tù tùng thoại – một tác phẩm không chỉ có giá trị văn học mà còn lưu giữ nhiều ký ức về một thế hệ những người yêu nước trong chốn lao tù.

Điều đáng chú ý là Huỳnh Thúc Kháng không để nhà tù trở thành nơi đóng lại đời sống tinh thần của mình. Trái lại, đó vẫn là một khoảng thời gian Cụ tiếp tục quan sát con người, suy nghĩ về thời cuộc và tích lũy vốn sống.

Một con người có thể bị giam giữ về thân thể, nhưng nếu vẫn giữ được khả năng suy nghĩ, vẫn giữ được lòng tự trọng và niềm tin vào những điều mình theo đuổi thì tinh thần của họ chưa thể bị khuất phục.

Đó cũng là một trong những giá trị làm nên tầm vóc Huỳnh Thúc Kháng.

2. Ra tù năm 1921, Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục hoạt động trên nhiều lĩnh vực. Năm 1926, Cụ tham gia Viện Dân biểu Trung Kỳ và từng giữ chức Viện trưởng. Khi nhận thấy hoạt động nghị trường không đáp ứng được mục đích mình theo đuổi, Cụ đã từ chức. Sau đó, năm 1927, Cụ sáng lập và làm chủ bút báo Tiếng Dân tại Huế.

Nếu phong trào Duy Tân cho thấy Huỳnh Thúc Kháng là người muốn đánh thức dân trí bằng giáo dục và cải cách xã hội, thì Tiếng Dân cho thấy Cụ muốn tạo dựng một không gian công luận để người dân được biết, được suy nghĩ và được quan tâm đến những vấn đề của đất nước.

Trong suốt thời gian tồn tại, Tiếng Dân trở thành một tiếng nói có ảnh hưởng trong đời sống xã hội Trung Kỳ. Cụ Huỳnh coi trọng sự chính xác của thông tin, tinh thần trách nhiệm của người làm báo và mối quan hệ với công chúng. Có những trường hợp nội dung bị nhà cầm quyền kiểm duyệt, phần bị cắt được để trống trên mặt báo – một cách thể hiện rất đặc biệt thái độ của người làm báo trước sự can thiệp vào tiếng nói công luận.

Nhìn từ hôm nay, Tiếng Dân không chỉ là một tờ báo của một thời kỳ lịch sử. Nó còn gợi cho chúng ta suy nghĩ về trách nhiệm của người cầm bút.

Trong một xã hội mà thông tin ngày càng nhanh, người viết càng cần sự tỉnh táo; khi một thông tin có thể lan truyền đến hàng triệu người chỉ trong vài phút, yêu cầu về sự thật, kiểm chứng và trách nhiệm càng trở nên quan trọng.

Ở phương diện ấy, Huỳnh Thúc Kháng vẫn là một người đối thoại với hiện tại. Một trí thức biết tiếp nhận cái mới nhưng không đánh mất mình

Có một nét trong Huỳnh Thúc Kháng mà đôi khi bị che khuất bởi hình ảnh một nhà Nho khí tiết. Đó là khả năng thích ứng với sự thay đổi của thời đại.

Cụ trưởng thành bằng chữ Hán, nhưng tham gia Duy Tân, tiếp nhận chữ Quốc ngữ, hoạt động báo chí, tham gia nghị trường và suy nghĩ về những vấn đề của một xã hội đang chuyển đổi. Điều đó cho thấy Cụ không xem truyền thống và hiện đại là hai thế giới tuyệt đối đối lập.

Cái gì thuộc về giá trị văn hóa, đạo lý, lòng tự trọng của dân tộc thì giữ gìn. Cái gì thuộc về tri thức, phương thức tổ chức xã hội, giáo dục, báo chí và đời sống mới mà có ích cho dân thì tiếp nhận.

Có lẽ chính khả năng giữ cái cốt lõi mà không khước từ cái mới đã giúp Huỳnh Thúc Kháng đi được một hành trình dài như vậy qua những biến động của lịch sử.

 3. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đất nước đứng trước một tình thế đặc biệt khó khăn. Huỳnh Thúc Kháng, một trí thức yêu nước có uy tín lớn, tham gia Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ và sau đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao quyền điều hành công việc của Chính phủ trong thời gian Người sang Pháp năm 1946.

Đây là một chương rất đáng suy ngẫm trong cuộc đời Cụ. Bởi Huỳnh Thúc Kháng và Hồ Chí Minh xuất thân từ những con đường hoạt động khác nhau. Nhưng trước vận mệnh của đất nước, những khác biệt ấy không trở thành rào cản đối với sự hợp tác.

Điều làm nên sự gặp gỡ giữa hai con người là uy tín, nhân cách và mục tiêu chung vì độc lập dân tộc, vì nhân dân.

Có lẽ vì thế, khi nhìn lại mối quan hệ giữa Huỳnh Thúc Kháng và Hồ Chí Minh, điều đáng nói không chỉ là sự tin cậy giữa hai cá nhân, mà còn là một bài học về cách một dân tộc có thể tập hợp những con người khác nhau quanh những lợi ích lớn hơn của đất nước.

Cuối năm 1946, khi cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu, tuổi đã cao và sức khỏe không còn tốt, Huỳnh Thúc Kháng vẫn nhận nhiệm vụ đi vào miền Trung với tư cách Đặc phái viên của Chính phủ, vận động nhân dân đoàn kết, ủng hộ kháng chiến và kiến quốc.

Ngày 21/4/1947, Cụ qua đời tại Quảng Ngãi trong khi đang thực hiện nhiệm vụ, hưởng thọ 70 tuổi. Có lẽ không cần thêm một lời ca ngợi nào để làm đẹp hơn đoạn cuối cuộc đời ấy.

Một người đã sống gần trọn cuộc đời cho việc nước và đến những năm tháng cuối cùng vẫn đang trên đường làm nhiệm vụ – đó đã là một câu trả lời.

4. Kỷ niệm 150 năm ngày sinh Huỳnh Thúc Kháng, chúng ta tưởng nhớ một chí sĩ yêu nước, một nhà báo, một nhà hoạt động chính trị, một người con ưu tú của xứ Quảng.

Nhưng có lẽ điều quan trọng hơn là nhận ra những giá trị vẫn còn khả năng đối thoại với hôm nay.

Đó là tinh thần tự học và học hỏi cái mới, ttrách nhiệm của người trí thức trước xã hội, sự trung thực của người cầm bút trước sự thật, bản lĩnh giữ vững nguyên tắc nhưng biết ứng xử linh hoạt trước hoàn cảnh, khả năng vượt qua những khác biệt để tìm đến những điểm chung lớn hơn của dân tộc.

Và trên hết là một quan niệm giản dị mà lớn lao: đã là người có học, có tài thì không thể đứng ngoài vận mệnh của đất nước và cuộc sống của nhân dân.

Một thế kỷ rưỡi đã đi qua kể từ ngày Huỳnh Thúc Kháng sinh ra.

Thời đại hôm nay đã khác rất xa thời đại của Cụ. Những vấn đề chúng ta đối diện cũng khác. Nhưng câu hỏi về trách nhiệm của con người trước đất nước, trước cộng đồng, trước sự thật và trước chính mình thì vẫn còn nguyên giá trị.

Bởi vậy, tưởng nhớ Huỳnh Thúc Kháng là dịp để chúng ta nhìn lại một cách sống, một cách làm người, một cách phụng sự xã hội.

Từ quê hương Quảng Nam, Huỳnh Thúc Kháng đã đi vào lịch sử dân tộc. Và sau 150 năm, tên tuổi của Cụ vẫn nhắc chúng ta về một điều tưởng như giản dị: một đời người có thể hữu hạn, nhưng nhân cách và những việc làm vì dân, vì nước có thể vượt qua thời gian.

H.H