Trường giang như kiếm lập thanh thiên

27.01.2026
Bùi Văn Tiếng
Ai cũng biết sông Hàn không dài, không thể là trường giang. Cho nên “thanh thiên” ở đây chắc không phải là không gian, mà là thời gian, là lịch sử.

Trường giang như kiếm lập thanh thiên

Khi cho xuất bản tập sách Nghĩ dọc sông Hàn (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2004), tôi đã mượn một câu thơ chữ Hán mà Cao Bá Quát từng viết về sông Hương để làm đề từ cho ấn phẩm của mình: Trường giang như kiếm lập thanh thiên - Tố Hữu dịch: Hương giang như kiếm dựng trời xanh. Đây là câu thơ thứ hai trong bài thất ngôn bát cú Đường luật Hiểu quá Hương giang - Buổi sáng qua sông Hương của nhà thơ Cao Bá Quát. Khi viết lời tựa nhan đề Hàn giang như kiếm… cho Nghĩ dọc sông Hàn, nhà văn Nguyên Ngọc lý giải: “Mở đầu tập sách này của mình, Bùi Văn Tiếng đã dùng một câu thơ của Cao Bá Quát làm đề từ: “Trường giang như kiếm lập thanh thiên”. Ai cũng biết sông Hàn không dài, không thể là trường giang. Cho nên “thanh thiên” ở đây chắc không phải là không gian, mà là thời gian, là lịch sử. Con sông ấy, con sông Hàn thân thiết của anh, như một thanh kiếm đứng sừng sững giữa khoảng rộng dài mênh mông của lịch sử, một lịch sử gần bảy trăm năm hết sức xao động của Đà Nẵng và của Đất Quảng, có lẽ là xao động hơn bất cứ một vùng đất nào khác trên Tổ quốc ta, đặc biệt trong thời kỳ cận đại và hiện đại”.

Trong bút ký có nhan đề Nghĩ dọc sông Hàn - cũng là nhan đề cả tập sách, tôi đã viết rằng “với tôi, sông Hàn không chỉ là một con sông, sông Hàn còn là một dòng lịch sử”, và từ trên dòng lịch sử ấy, đứng bên cạnh tấm bia đá khắc ba đại tự chữ Hán Vọng Giang đài, tôi đưa mắt “nhìn xa về phía sông Hàn - không phải xa tít không gian mà xa thẳm thời gian - nghĩa là về phía con sông Hàn của Đà Nẵng trong mai hậu”. Rồi từ trên dòng lịch sử ấy, tôi nhìn tiếp về phía hai con sông trong thế giới nghệ thuật thơ Thu Bồn là con sông Hàn - qua quê mẹ không ghé về thăm mẹ/ sông cứ chảy vòng quanh sông bỗng hoá sông Hàn - và con sông Hương - con sông giùng giằng con sông không chảy/ sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu (tiểu luận Về bài thơ Qua quê mẹ của Thu Bồn trong Nghĩ dọc sông Hàn). Và cũng từ trên dòng lịch sử ấy, không thể không liên tưởng tới con sông Hàn trong bài thất ngôn bát cú Đường luật Đà Nẵng cảm hoài của nhà thơ Trần Quý Cáp: An năng tái khởi Trần Hưng Đạo/ Cộng vãn Đằng giang vĩ đại công - Khương Hữu Dụng dịch: Ước chi sống lại Trần Hưng Đạo/ Cùng lập Đằng giang trận thứ hai.

Rõ ràng “Đằng giang” trong thế giới nghệ thuật thơ Trần Quý Cáp không chỉ là con sông Bạch Đằng nơi Trần Hưng Đạo từng đánh tan quân xâm lược Mông Nguyên năm Mậu Tý 1288, mà còn và chủ yếu là con sông Hàn nơi thầy giáo thọ phủ Thăng Bình sắp bước xuống thuyền để vào nhậm chức giáo thọ phủ Ninh Hoà hồi đầu thế kỷ XX đang nhìn thấy cờ Pháp giăng đầy trước mắt: Thuyền lâm nội phụ tam tài triển - Khương Hữu Dụng dịch: Cờ ba sắc nhoáng tàu vô cửa, và “Đằng giang trận thứ hai” ở đây chính là khát vọng của Trần Quý Cáp muốn đánh tan thực dân Pháp đương thời còn thống trị đất nước ta. Không phải ngẫu nhiên mà từ nửa đầu thập niên 1950, người Đà Nẵng đã đặt tên Trần Quý Cáp cho con đường khởi đầu từ chỗ bến sông nơi Trần Quý Cáp đứng chờ thuyền hồi năm Mậu Thân 1908, và không phải ngẫu nhiên mà người Đà Nẵng đặt tên cho con đường chạy dọc tả ngạn sông Hàn là đường Bạch Đằng cũng từ nửa đầu thập niên 1950 và đặt tên cho con đường chạy dọc hữu ngạn sông Hàn là đường Trần Hưng Đạo từ nửa sau thập niên 2000… Và sắp tới đây, xuất phát từ tứ thơ hào sảng ấy của Trần Quý Cáp, nên chăng đặt một tượng đài Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn ngay trên Ngự Hải đảo/Hòn Sơn Trà con ở cửa vịnh Đà Nẵng - nơi từng chứng kiến sự xâm nhập của quân viễn chinh Pháp-Tây Ban Nha vào năm Mậu Ngọ 1858 và của quân viễn chinh Mỹ vào năm Ất Tỵ 1965.

Đúng là sông Hàn không dài, không thể là trường giang, nhưng Đà Nẵng còn có một con sông mang tên Trường Giang có dòng chảy giống như con sông Hàn chạy dọc theo duyên hải - biển một bên và sông một bên, dài hơn sáu mươi cây số, không có thượng nguồn cũng không có hạ lưu, đầu phía bắc hợp lưu với sông Thu Bồn đổ ra biển tại cửa Đại, đầu phía nam hợp lưu với sông Tam Kỳ đổ ra biển qua cửa Lở và cửa An Hòa. Trong bài hát Hoài niệm Trường Giang, nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển từng viết những ca từ đầy cảm xúc về con sông tuổi thơ của đời mình: “Ơi con sông Trường Giang/ Con sông dịu dàng như nghĩa mẹ/ Con sông êm đềm như bóng cha ngàn năm thiết tha/ Ơi con sông Trường Giang/ Con sông mơ màng như dải lụa/ Con sông ngọt ngào như tình yêu cái thuở ban đầu…”. Trong chữ Hán, “giang” nghĩa là “sông” nhưng người Đà Nẵng vẫn quen gọi sông-Trường-Giang, chắc để phân biệt với con sông Trường khởi từ phía Trà Bồng bên Quảng Ngãi đổ về phía Trà My bên Đà Nẵng - con sông vẫn thường phải “rùng mình” bởi những cơn động đất kích thích đến mấy độ Richter từ thuỷ điện sông Tranh… Xin nói thêm, nhắc đến con sông Tranh, không thể không nhớ tới con sông Tiên chảy ngược lên rừng…

Giữa năm 2025, ở Đà Nẵng có nhiều đơn vị hành chính cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp được mang tên các dòng sông bản địa, trong đó đáng chú ý là xã Thu Bồn (hợp nhất từ bốn xã Duy Châu, Duy Hoà, Duy Phú và Duy Tân của huyện Duy Xuyên) và xã Vu Gia (hợp nhất từ ba xã Đại Phong, Đại Minh và Đại Cường của huyện Đại Lộc). Lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn là một trong mấy lưu vực sông lớn của nước ta, với tổng diện tích lưu vực là 10.035 km2 (bao gồm 301,7 km2  thuộc địa phận tỉnh Quảng Ngãi), góp phần đưa Đà Nẵng sau hợp nhất trở thành thành phố có diện tích lớn nhất trong sáu thành phố trực thuộc Trung ương; đồng thời đóng vai trò quan trọng trong đời sống thường nhật của người Đà Nẵng. Đã từng có rất nhiều sinh hoạt học thuật bàn về việc quản lý lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn, chẳng hạn như Hội thảo Quản lý tổng hợp lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn và vùng bờ Quảng Nam-Đà Nẵng do Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam và Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng đồng tổ chức ngày 24 tháng 11 năm 2016; như Hội thảo Đánh giá hiệu quả khai thác nguồn nước lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn và một số giải pháp ứng phó thiên tai của vùng hạ lưu do Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng tổ chức hồi tháng 7 năm 2023… Không phải ngẫu nhiên mà lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn cùng vùng biển ven bờ Đà Nẵng là khu vực thí điểm chính của Việt Nam đăng ký tham gia dự án Giảm thiểu ô nhiễm và duy trì dòng chảy môi trường tại các vùng biển Đông Á thông qua việc thực hiện quản lý tổng hợp lưu vực sông tại các nước ASEAN. Tất cả đều vì sự bình yên và hạnh phúc của người dân Đà Nẵng - nên nhớ rằng ở hạ lưu Vu Gia-Thu Bồn, cộng đồng cư dân luôn mong chờ phía thượng nguồn “mít non gửi xuống” nhằm kết nối giao thương giữa đại ngàn với đại dương chứ không hề mong đợi nước lũ tràn dâng!

Trên Dụ đỉnh - một trong Cửu đỉnh - ở kinh thành Huế có khắc chạm hình ảnh đúc nổi mang tên một con sông đào nổi tiếng của thành phố Đà Nẵng sau hợp nhất là Vĩnh Điện hà/sông Vĩnh Điện - con sông đào dài hơn 30km, lấy nước từ sông Thu Bồn ở địa phận làng Câu Nhí, đổ ra sông Cái rồi hòa vào sông Cẩm Lệ của hệ thống sông Vu Gia từ phía Tây chảy xuống, hợp thành sông Hàn đổ ra Đà Nẵng hải khẩu/cửa biển Đà Nẵng cũng được khắc chạm trên Dụ đỉnh, trước khi hoà chung vào dòng nước Biển Đông. Trong Hội nghị Toàn thể lần thứ 10 của Ủy ban Chương trình Ký ức Thế giới Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO tổ chức vào ngày 8 tháng 5 năm 2024 tại thủ đô Ulaanbaatar Mông Cổ, hồ sơ Những bản đúc trên chín đỉnh đồng ở Hoàng cung Huế của Việt Nam đã được thông qua và chính thức trở thành di sản tư liệu của Chương trình Ký ức Thế giới Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương của UNESCO… Đây cũng là cách để con sông đào Vĩnh Điện và cả con sông đào Vĩnh Tế gắn với tên tuổi người Đà Nẵng Nguyễn Văn Thoại trên Cao đỉnh - đỉnh lớn nhất trong Cửu đỉnh - được quảng bá tới đông đảo du khách thập phương khi đến tham quan Hoàng cung triều Nguyễn.   

Nhà thơ Bùi Công Minh - nguyên Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng - từng sáng tác bài thơ Sông Hàn tuổi mười tám - được nhạc sĩ Minh Khang phổ thành ca khúc cùng tên: Ta có một sông Hàn mười tám tuổi/ Như em sáng nay duyên dáng tuổi học trò/ Sông mở cửa đưa cánh buồm theo gió/ Sóng mang hồn thành phố đến khơi xa/ Sông Hàn ơi từ thuở ấu thơ/ Dòng sông rộng bàn chân ta nhỏ bé/ Tuổi khôn lớn đi đầu rừng cuối bể/ Mong ngày về trò chuyện cùng sông… Và với một người Đà Nẵng như Bùi Công Minh, dẫu cuộc đời dâu bể đến đâu thì sông Hàn của anh vẫn mãi mãi tuổi mười tám - tuổi đẹp nhất đời người: Rồi một ngày nhịp cầu mới sẽ bắc qua/ Đường Bạch Đằng sóng đôi cùng sông Hàn tình tự/ Những ngôi nhà vút cao bên dòng sông tư lự/ Ta vẫn muốn riêng mình một sông Hàn mười tám tuổi thơ ngây/ Như sáng thu này em duyên dáng áo dài bay... Viết đến đây tôi chợt nhớ mấy câu thơ Chế Lan Viên năm nào khi nhà thơ đặt câu hỏi Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng rồi tự trả lời: Những ngày tôi sống đây là ngày đẹp hơn tất cả/ Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn/ Trái cây rơi vào áo người ngắm quả/ Đường nhân loại đi qua bóng lá xanh rờn/ Mặt trời đến mỗi ngày như khách lạ/ Gặp mỗi mặt người đều muốn ghé môi hôn...

Cuối cùng, nói đến Hàn giang như kiếm, không thể không đề cập những cây cầu bắc qua sông Hàn. Khi Bùi Công Minh viết Sông Hàn tuổi mười tám, chỉ có hai cây cầu bắc qua sông Hàn là cầu Trần Thị Lý và cầu Nguyễn Văn Trỗi, nên nhà thơ mới hình dung tương lai thành phố của những cây cầu: Rồi một ngày nhịp cầu mới sẽ bắc qua - và thực tế đã bắc qua, nào là cầu Thuận Phước, cầu Rồng, cầu Tiên Sơn và cầu Sông Hàn. Ở nước ta đang có 13 cây cầu được lên tem bưu chính, sớm nhất là cầu Hảm Rồng được lên tem năm Giáp Thìn 1964, và đến năm Nhâm Ngọ 2002 cả bốn cây cầu Long Biên, Tràng Tiền, Mỹ Thuận và Sông Hàn cũng đồng loạt được lên tem. Cầu Tràng Tiền ban đầu mang tên cầu Thành Thái khánh thành năm Canh Tý 1900, cầu Long Biên ban đầu mang tên cầu Paul Doumer khánh thành năm Nhâm Dần 1902 - xem như hai đại-lão-kiều, đã trở thành bạn vong niên của hai hậu-bối-kiều là cầu Mỹ Thuận và cầu quay Sông Hàn bắc qua sông Hàn cùng khánh thành năm Canh Thìn 2000.

Cho nên trong bút ký Tản mạn về cầu Sông Hàn, tôi có thể hào hứng viết rằng cầu Sông Hàn quê mình mới “hai tuổiđã lên tem”. Đến năm 2012, “bộ ba cầu ngói” tiếp tục được lên tem bao gồm cầu ngói Phát Diệm/Kim Sơn cùng cầu ngói Chùa Lương/Hải Hậu đều của tỉnh Ninh Bình và cầu ngói Thanh Toàn/Hương Thuỷ của thành phố Huế. Đến năm 2019, trong “bộ năm cầu dây văng”, bên cạnh cầu dây văng Bãi Cháy của tỉnh Quảng Ninh, cầu dây văng Nhật Tân của thành phố Hà Nội, cầu dây văng Phú Mỹ của Thành phố Hồ Chí Minh, cầu dây văng Rạch Miễu nối tỉnh Tiền Gang với tỉnh Vĩnh Long, đã có thêm cầu dây văng Trần Thị Lý của Đà Nẵng cũng mới sáu tuổi đã được lên tem - tiền thân là cây cầu đầu tiên bắc qua sông Hàn mang tên De Lattre de Tassigny khánh thành năm Tân Mão 1951. Như vậy đến nay thành phố Đà Nẵng có hai cây cầu của Hàn giang như kiếm được vinh danh trên tem bưu chính.

B.V.T