Miếu thờ trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng - Đinh Thị Trang

20.08.2015

Quận Ngũ Hành Sơn nằm về phía đông nam của thành phố Đà Nẵng, được thành lập theo Nghị định số 07/1997/NĐ-CP ngày 23.01.1997 của Thủ tướng Chính phủ, gồm 4 phường: Khuê Mỹ, Mỹ An, Hòa Quý và Hòa Hải. Phía đông giáp biển Đông, phía tây giáp huyện Hòa Vang và quận Cẩm Lệ; phía bắc giáp quận Hải Châu và quận Sơn Trà; phía nam giáp với huyện Điện Bàn của tỉnh Quảng Nam. Diện tích tự nhiên 36,52 km2,dân số 61.441 người.

Miếu thờ trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng - Đinh Thị Trang



Căn cứ vào thư tịch cổ và kết quả khai quật khảo cổ học, các nhà nghiên cứu đã đặt vùng đất Ngũ Hành Sơn trong một diễn trình lịch sử gồm 3 thời kỳ: Tiền, sơ sử - Chămpa - Đại Việt, Đại Nam, Việt Nam. Tương đương với 3 thời kỳ này là 3 lớp cư dân kế tục nhau sinh sống, họ để lại nơi đây những di chỉ, di tích, hiện vật chứa đựng những giá trị về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng vô cùng độc đáo, trong đó có hệ thống miếu thờ.

 Một số khái niệm về miếu thờ

Cho đến nay, có khá nhiều khái niệm khác nhau về miếu thờ. Các học giả Trung Quốc cho rằng: “Miếu vốn là nơi thờ cúng tổ tiên của người cổ đại. Thời đó, người ta hạn chế đẳng cấp một cách nghiêm ngặt về quy mô của miếu. Trong sách ‘Lễ ký’ có viết: ‘Thiên tử thất miếu, khanh ngũ miếu, đại phu tam miếu, sĩ nhất miếu’. Tức là vua được 7 miếu, các quan được 5 miếu, quan đại phu được 3 miếu, quân sĩ được 1 miếu. Thái Miếu là miếu tổ của Đế Vương, còn các miếu khác của những người có quan tước cũng được xây theo kiểu ‘Gia Miếu’. Sau đời nhà Hán, các ngôi miếu dần dần được pha trộn với thần xã ban đầu (tức miếu Thổ địa) và được biến thành thần coi giữ giang sơn, sông núi dưới âm tào địa phủ. ‘Nhân tử viết quỷ’, miếu là nơi cúng tế thần quỷ và cũng thường là nơi sắc phong, chiêu tài văn võ sĩ như văn miếu - miếu Khổng Tử, võ miếu - miếu Quan Vũ”.1

Ở Việt Nam, khi nói đến miếu thờ, học giả Đào Duy Anh trong Hán Việt từ điển cho rằng, miếu là “nhà thờ tổ tiên, nhà thờ thần, cung điện của vua”.2 Còn theo Hoàng Phê thì “miếu là nơi thờ thần thánh hoặc những nhân vật đã được thần thánh hóa; đền thờ nhỏ”.3 Giáo sư Phan Đại Doãn trong công trình Mấy vấn đề văn hóa Việt Nam trong lịch sử đã cho chúng ta biết rõ hơn về kiến trúc cũng như vị thần được thờ tự trong miếu: “miếu có kiến trúc nhỏ hẹp, thường thường là của cộng đồng xóm ngõ. Vị thần được thờ cũng thường là Thổ công, Thổ địa hoặc các vị tổ sư nghề”.4 Còn Giáo sư Vũ Ngọc Khánh thì nhận xét một cách khái quát: “Đền miếu là những công trình tín ngưỡng hoàn toàn của Việt Nam, của làng này, thôn nọ… nó liên quan chặt chẽ với tín ngưỡng đa thần, tín ngưỡng phồn thực của thời đại cũ”.5

Ngoài ra, nhiều nhà nghiên cứu hàng đầu ở Việt Nam về văn hóa cũng đã đưa ra những khái niệm về miếu thờ. Chẳng hạn, Phan Kế Bính khi bàn về “Đình Miếu” đã viết: “Mỗi làng thờ thần phải có một tòa miếu. Có nơi thì vừa có miếu vừa có đình. Làng nào to thì mỗi thôn lại có lập riêng một đình. Miếu là chỗ quỷ thần bằng y, đình là nơi thờ vọng và để làm nơi công sở cho dân hội họp. Miếu thường hay kén những nơi đất thắng cảnh, nhất là trên gò cao hoặc là nơi gần hồ to sông lớn thì mới hay”.6 Cũng trùng với ý kiến của Phan Kế Bính, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa Toan Ánh trong công trình Nếp cũ - Tín ngưỡng Việt Nam (quyển Thượng) nhận xét rõ hơn: “Miếu cũng là nơi để quỷ thần an ngự,… miếu nhỏ hơn đền, thường xây theo kiến trúc chữ Nhất, với hai phần cách biệt bởi một bức rèm, nội điện bên trong và nhà tiền tế bên ngoài,… Miếu thường được xây dựng trên gò cao, nơi sườn núi hoặc đầu làng, cuối làng, những nơi yên tĩnh để quỷ thần có thể an vị không bị mọi sự ồn ào của dân chúng làm nhộn. Trong miếu cũng đặt tượng thần hoặc bài vị thần linh đặt trên ngai, ngai được đặt trên bệ với thần sắc hoặc bản sao,… có nơi gọi miếu là nghè”.7

Qua một số khái niệm trên về miếu thờ, phần nào đã cho chúng ta thấy, miếu là nơi tôn nghiêm được cộng đồng cư dân trong cùng một làng dựng lên để thờ phượng các vị thần có nguồn gốc từ tự nhiên còn gọi là “thần linh”; và những vị thần là những bậc thánh hiền, khai quốc công thần hoặc những người có công giúp đời, linh hiển,... còn gọi là “thần người”. Hằng năm, đúng vào những dịp xuân thu nhị kỳ hoặc ngày vía của các thần, người dân lại cùng nhau tham gia tổ chức cúng tế tại miếu, điều này đã tạo nên một nét đẹp của đời sống văn hóa làng xã Việt Nam.

Miếu thờ trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn

 Niên đại hình thành

Theo khảo sát bước đầu của chúng tôi, trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn còn hiện diện khoảng 69 miếu thờ. Trong đó, phường Hòa Hải có 34 miếu, phường Hòa Quý có 29 miếu. Đây là hai phường có số lượng miếu nhiều hơn cả do nằm ở vị trí ven sông Cổ Cò, nơi những lớp cư dân người Việt đầu tiên đến khai hoang, lập nghiệp từ lâu đời. Hiện nay, ở ven sông Cổ Cò còn khá nhiều miếu thờ như: miếu Ông Chài, lăng Ông Ngư, miếu Bà Chúa Ngọc, miếu Bà Lồi, miếu Bà Thủy, miếu Thành Hoàng Thọ Khương,... Riêng hai phường Mỹ An và Khuê Mỹ còn rất ít miếu, bởi hai phường này đã được quy hoạch, tái định cư. Điều đó phần nào cho thấy, những phường chưa bị đô thị hóa thì miếu thờ còn hiện diện khá nhiều, còn những phường đã được quy hoạch theo kiến trúc đô thị thì hệ thống miếu thờ cũng ít đi.

Đến nay, việc xác định niên đại hình thành cho các ngôi miếu trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn gặp không ít khó khăn. Bởi chính những vị cao niên trong làng cũng chỉ biết, theo lời truyền lại của ông bà thì những ngôi miếu đó đã hiện diện từ lâu đời, đến nay có niên đại hàng thế kỷ, gắn liền với cuộc Nam tiến của dân tộc. Ngoài ra, phần lớn các ngôi miếu đều được trùng tu hoặc xây mới sau thập niên 80 của thế kỷ XX, nhất là sau phong trào bài trừ mê tín dị đoan, dẫn đến việc đập phá miếu. Do đó, các thư tịch liên quan phần lớn bị hủy hoại, các văn bia trong miếu phần nào cũng bị đập nát chỉ còn lại rất ít nên khó khăn cho việc xác định niên đại của miếu.

Chúng tôi chỉ xác định được niên đại trùng tu của một số ngôi miếu khi dựa trên các bia ký còn sót lại ghi danh tánh của những người đã góp tiền của trùng tu, như miếu xóm Bình Kỳ 1 (tổ 9, phường Hòa Quý) có một tấm bia bằng đá cẩm thạch, xung quanh được bao bọc bởi rễ cây bồ đề, nằm ở phía trước bức bình phong của miếu ghi: Đại Nam, Hóa Giang, Tiền Hương binh Chánh Quản cơ Nguyễn Công tự Quỳnh phủ chi vị (Tạm dịch: Thần vị ông họ Nguyễn tên Quỳnh giữ chức Chánh Quản cơ của quân đội ở làng Hóa Giang, nước Đại Nam), xung quanh không có bất kỳ dòng lạc khoản hay minh văn nào cho biết về thân thế, sự nghiệp của vị Quản cơ này nên khó khăn trong việc xác định niên đại xây dựng. Nhưng bên trong miếu còn có một tấm bia khác ghi danh tánh của những người đã góp tiền trùng tu miếu được khắc vào năm Bảo Đại thứ 4 (1929). Điều đó giúp chúng tôi nhận định, ngôi miếu này đã được xây dựng trước đó khá lâu, sau đó bị hư hại nặng, đến năm 1929, nhân dân trong vùng đã góp tiền trùng tu để thờ vị Quản cơ họ Nguyễn và tôn xưng là Thành Hoàng của làng? Tuy nhiên, để xác định chính xác niên đại của ngôi miếu thì cần phải tìm hiểu rõ về thân thế và sự nghiệp của vị Chánh Quản cơ này. Đến nay, cho dù đã rất cố gắng, nhưng do điều kiện nghiên cứu hạn chế (không chỉ hạn chế về thời gian mà cả về tài liệu thư tịch) nên chúng tôi vẫn chưa xác định được thân thế cũng như hành trạng của vị Chánh Quản cơ này.

Ngoài việc căn cứ niên đại xây dựng và trùng tu trên các bia đá, chúng tôi cũng dựa vào thư tịch cổ để xác định khoảng thời gian xây dựng một số miếu. Chẳng hạn, ba ngôi miếu ở làng Hóa Sơn là miếu Ông Chài, miếu Bà Chúa, lăng Ông Ngư được người dân xây dựng vào năm 1933 (tức năm Quý dậu, niên hiệu Bảo Đại thứ 8) sau khi làng Hóa Sơn được thành lập 3 năm. Ngoài ra, còn có miếu thờ Phi Vận tướng quân Nguyễn Phục mà nhân dân thường gọi là miếu Tiến Sĩ hay miếu Một Cây Da Quỳ ở phường Khuê Mỹ. Theo sử cũ, vào tháng Giêng năm 1471, vua Lê Thánh Tông đưa quân chinh phạt Chiêm Thành, khi đến cửa biển Đà Nẵng thì cả hai đạo quân phải chờ đoàn vận lương do Nguyễn Phục dẫn đầu, vì gặp thời tiết xấu nên đoàn thuyền tải lương của ông đến muộn nên ông bị hành quyết. Sau sự biến đó thì nhân dân lập miếu thờ ông tại nơi ông thọ hình.9 Như vậy, căn cứ vào Ô châu cận lục (do Dương Văn An nhuận sắc năm 1553) thì có một ngôi miếu thờ Nguyễn Phục ở đền Tùng Giang, cửa biển Tư Khách (nay thuộc huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế) và một ngôi miếu nữa ở cửa biển Đà Nẵng.10 Điều này giúp ta có thể tạm xác định niên đại của ngôi miếu này có thể được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI?

Cá biệt có hai ngôi miếu ở tổ 91, phường Khuê Mỹ là miếu thờ Thành Hoàng bổn xứ và miếu Bà Chúa Ngọc thì một bên cửa có tấm bia đá khắc chữ Quốc ngữ cho biết rõ năm xây dựng và năm trùng tu miếu. Tại miếu Thành Hoàng ghi: “Miếu Thần Hoàng bổn xứ xây dựng năm 1858 đến nay trọn 145 năm. Trùng tu ngày 25 tháng 4 năm Quý mùi (2003) với sự tham gia của nhân dân xóm Sơn Thủy Trung Ấp”. Còn miếu Bà Chúa Ngọc: “Miếu Bà Chúa Ngọc xây dựng năm 1858 đến nay trọn 145 năm. Tái tạo ngày 15 tháng 4 đến ngày 25 tháng 4 năm Quý mùi (2003). Hoàn thành với sự trợ giúp xây dựng của toàn dân Trung Ấp Sơn Thủy”. Một số ngôi miếu được xây dựng và trùng tu những năm gần đây thì thời gian xây dựng hoặc trùng tu được ghi ở trên mi cửa.

Có thể nói, đến nay cho dù đã có nhiều cố gắng nhưng chúng tôi vẫn chưa xác định chính xác niên đại của những ngôi miếu cho dù chúng mang phong cách kiến trúc cổ xưa nằm trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn. Qua đó, chúng tôi tạm cho rằng, phần lớn các ngôi miếu trên địa bàn quận được xây dựng vào thời nhà Nguyễn, cá biệt có từ thời nhà Lê, và phần nhiều được tôn tạo, xây mới vào khoảng những năm 80 của thế kỷ XX cho đến sau này.

Đặc điểm kiến trúc

Kiến trúc miếu thờ là một bộ phận của kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng nước ta. Quan điểm kiến trúc truyền thống của người Việt thường theo thuyết phong thủy “minh đường thủy tụ”. Do đó, khi xây dựng miếu, người xưa đã chọn thế đất để tạo ra một khung cảnh có núi rừng, có sông nước bao bọc với một bầu không khí tĩnh mịch, u huyền, hoặc những nơi mà vị thần đó hiển linh. Điều này được Vũ Tam Lang nhận xét: “Kiến trúc đền đài - miếu mạo là một bộ phận của kiến trúc tôn giáo - tín ngưỡng nước ta. Một số công trình đền đài - miếu mạo là nơi thờ cúng của Đạo giáo (Lão giáo) - nguyên là một thứ triết học của quần chúng bị áp bức thể hiện trong học thuyết đạo đức của Lão Tử,… Địa điểm xây dựng đền đài - miếu mạo thường được lựa chọn ở những vị trí có liên quan đến những truyền thuyết hoặc sự tích, cuộc sống của vị thần siêu nhiên hay nhân vật được tôn thờ”.11

Qua khảo sát miếu thờ trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn chúng tôi nhận thấy, các ngôi miếu thường nằm trên một khoảng đất cao ráo, xung quanh bao bọc bởi sông ngòi hoặc những cây cổ thụ um tùm, tạo nên sự thâm nghiêm, u tịch như miếu Cây Da, miếu Bồ Đề (Hòa Quý), miếu Tam Vị (Hòa Hải),... Hầu như ngôi miếu nào cũng có đầy đủ “tiền án - hậu chẩm”. Điển hình như miếu Ông Chài, lăng Ông Ngư, miếu Bà Chúa thì được xây dựng quay mặt ra sông Cổ Cò, dựa lưng vào ngọn Hỏa Sơn; miếu Công chúa Huyền Trân nằm dựa lưng vào núi Kim Sơn; lăng Bà Thủy ở Hòa Hải thì được xây dựng trên một gò cao, phía trước là một cánh đồng trũng; lăng Ông ở Tân Trà, Hòa Hải thì tiền án chính là biển Đông,… Nhiều nhà nghiên cứu nhận định, miếu thờ ở Ngũ Hành Sơn cho dù được xây dựng giữa một làng đồng bằng ven biển mà lại có cảnh núi sông như vậy đã thể hiện sự gắn bó giữa con người với tổng thể thiên nhiên. Khung cảnh miếu thờ ở đây khác hẳn với khung cảnh kiến trúc phương Tây, nếu như ở phương Tây, một nhà thờ mang phong cách Gothique vượt trội giữa làng quê đơn sơ, hay một lâu đài của lãnh chúa được xây dựng to lớn nổi bật giữa những trang trại thấp bé vẫn chỉ là vẻ đẹp tách biệt với thiên nhiên12, thì ở nơi đây, sự hài hòa, cân đối đã tạo nên nét đặc trưng của kiến trúc Việt.

Miếu tuy là nơi thờ tự chung của cả làng nhưng kiến trúc của miếu lại rất đơn giản thậm chí là nhỏ bé. Những ngôi miếu ở đây phần lớn thường không có cổng tam quan.13 Một số miếu có tường thành bao quanh và cổng khá đơn giản như miếu xóm Đình Dương, miếu Ông Bà Ngũ Hành, miếu xóm Đồng Nò (Hòa Quý), lăng Ông làng Tân Trà (Hòa Hải),… Phần lớn các ngôi miếu còn lại không có tường bao, cổng ngõ.

Khi bước vào các miếu thờ, chúng ta thường bắt gặp chiếc bình phong nằm án ngữ ở phía trước, trang trí các đồ án tứ linh, hổ,... Phía sau bình phong thường có một ban thờ, có miếu thì ban thờ có mái che như miếu xóm Chùa (Hòa Hải), còn lại thì bàn thờ lộ thiên. Đây là nơi đặt các lễ vật trong những dịp cúng tế và là nơi tế âm linh, cô hồn.

Kiến trúc miếu thường được xây theo hình chữ Nhất , nhiều miếu chỉ có một gian thờ như miếu Bà Thủy, miếu Bà Chúa Ngọc, miếu Cây Xoài (Hòa Hải), miếu Cây Da (Hòa Quý); hoặc hai gian ba chái như miếu Bà Chúa Lồi (Mỹ An), miếu Ngũ Hành (Hòa Quý), miếu Tiến Sĩ (Khuê Mỹ)... Một số miếu ở phía trước còn xây thêm sảnh dài như miếu Ông (Hòa Hải), miếu xóm Đại An (Hòa Quý),… Những miếu có kiến trúc hai gian ba chái thường có hai phần: hậu tẩm và chính điện. Hậu tẩm là nơi linh thiêng nhất của miếu, được xây theo lối ba mặt bịt kín chỉ có một cửa thông với miếu và xây cao hơn so với miếu. Như vậy, khi đứng ở ngoài nhìn vào bên trong ta thấy một không gian hẹp và sâu làm cho ngôi miếu trở nên thâm nghiêm hơn.

Hầu hết các ngôi miếu đều được xây bằng gạch và xi măng cốt thép. Diện tích của miếu cũng to nhỏ khác nhau. Miếu kiểu một gian thì thường có diện tích khoảng 4 m2 đến 5 m2. Những miếu có ba gian hai chái thì có diện tích khoảng 15 m2 đến 20 m2. Đỡ mái là một hệ thống cột gỗ hoặc đúc bằng xi măng. Bộ khung mái làm theo kiểu chồng rường, đây là lối kiến trúc truyền thống của xứ Quảng. Mái lợp ngói âm dương, tôn, ngói vảy cá, ngói mũi hài hoặc đổ bê tông giả ngói âm dương. Mái thường có hai tầng theo kiểu chồng diêm, có miếu thì xuôi một tầng mái. Trên bờ nóc thường trang trí motif “lưỡng long tranh châu” hoặc hình con dơi, bốn góc mái thường có đắp nổi các hình long, lân, phượng bằng sành sứ cách điệu rất thanh thoát. Ngoài ra, một số miếu có kiến trúc khá độc đáo như miếu Tam Vị (Hòa Hải) và miếu Bồ Đề (Hòa Hải), chúng tọa lạc dưới gốc cây cổ thụ, theo thời gian, rễ cây bám vào miếu và tạo thành cửa hình vòm rất đẹp.

Phía trên chính điện của gian thờ thường có bức hoành ghi tên miếu hoặc những câu ngụ ý chúc tụng. Hai bên gian thờ thường có hai câu đối thể hiện lòng tôn kính của nhân dân trong vùng ca ngợi công đức của thần hoặc ghi lại vị thế đất đai mà ngôi miếu tọa lạc. Trên những bức tường phía trong gian thờ được trang trí rất nhiều đồ án như: mặt trời, chim hạc, hoa sen, hoa cúc, lưỡng long tranh châu, long mã hà đồ, kỳ lân, chim phượng, long ẩn vân, long bàn hổ cứ, hoa đào, quả đào, quả lựu, tranh phong cảnh Non Nước Ngũ Hành Sơn,…

Qua đó, chúng ta thấy kiến trúc của các ngôi miếu tuy không lớn, đồ án trang trí tuy không nổi bật như những công trình tín ngưỡng khác nhưng phần nào đã phán ánh được đặc điểm kiến trúc của cộng đồng người Việt trên vùng đất Ngũ Hành Sơn.

Đối tượng thờ phụng

Miếu trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn thờ những vị thần có nguồn gốc khác nhau, trong đó có những vị thần trong tín ngưỡng dân gian của người Việt, có vị thần của người Chăm nhưng được Việt hóa, hoặc thần của người Hoa. John Barrow trong một lần du hành đến Đà Nẵng cuối thế kỷ XVIII, ông quan sát đời sống của người dân nơi đây và đã nhận xét về tín ngưỡng của họ: “Người Nam Hà cực kỳ mê tín, và cũng như người Trung Quốc, việc thờ cúng của họ được thực hiện rất thường xuyên với quan niệm là để ngăn ngừa tội lỗi trong tâm tưởng hơn là hy vọng đạt được một điều tốt lành trong thực tế. Nói cách khác người ta sợ ma quỷ ác độc hơn là những thánh thần tôn kính. Ở nhiều nơi trong nước, họ dựng lên những cọc tiêu hay cột gỗ, không chỉ nhằm mục đích đánh dấu nơi xảy ra một tai họa lớn của đông người hay của cá nhân như một cuộc thất trận, một vụ giết người hay những sự cố bất hạnh khác, mà còn được coi như để làm dịu đi cơn giận dữ của những hung thần được coi là có ảnh hưởng đến việc xảy ra tai họa. Vì vậy, một khi trẻ sơ sinh chết đi, cha mẹ của nó cho là đã làm phật ý một quỷ thần ác độc nào đó, và họ đã gắng sức làm cho vị thần kia nguôi giận bằng những đồ cúng lễ như cơm gạo, dầu ăn, trà uống, tiền bạc hoặc bất cứ thứ gì mà họ nghĩ ra cho là thích hợp nhất đối với vị thần nóng giận. Từ những tình cảm như vậy, người ta có thể dám hy vọng rằng tục lệ khủng khiếp giết trẻ sơ sinh không nằm trong số những phong tục tệ hại mà họ đã giữ lại của người Trung Quốc”.14 Để tiện cho việc tìm hiểu, chúng tôi tạm chia đối tượng thờ phụng trong các miếu thờ thành hai nhóm chính, đó là: nhiên thầnnhân thần.

2.3.1. Thờ nhiên thần

Việt Nam vốn là một quốc gia ở khu vực Đông Nam Á có nghề nông nghiệp lúa nước truyền thống lâu đời, họ sống gắn bó với thiên nhiên và cũng sợ thiên nhiên, nhất là những khi thiên tai bất thường xảy ra, họ không giải thích được vì sao lại có hiện tượng đó. Họ tưởng tượng có một lực lượng vô hình nào đó tác động vào đời sống của họ. Họ sợ hãi hoặc kính phục lực lượng ấy và dẫn đến việc tôn thờ, từ đó “thần linh” xuất hiện. Nhà nghiên cứu X.A. Tôcarev cho rằng: “Nguồn gốc này chính là sự bất lực của con người trồng trọt. Cây trồng không phải bao giờ cũng được mùa, mà mùa màng phụ thuộc vào những điều kiện mà con người cần đến sự phù trợ, giúp đỡ việc trồng cây, từ đó các lễ nghi ma thuật ra đời”.15

Ở Ngũ Hành Sơn, trong các ngôi miếu thờ các thần có nguồn gốc từ nhiên thần như: thực vật, động vật, đá, Ngũ Hành, cá Ông, Bạch Mã Thái Giám, Bà Thủy, Thổ địa, Thiên Y A Na,… được hình thành qua tín ngưỡng dân gian, xuất phát từ nền nông nghiệp lúa nước, có ảnh hưởng lớn trong tín niệm của cộng đồng cư dân làng xã và gia đình nơi đây. Đặc biệt ở Ngũ Hành Sơn hiện nay có nhiều ngôi miếu liên quan đến tín ngưỡng thờ cây16 như: miếu Cây Da ở Hòa Quý; miếu Cây Xoài, miếu Bồ Đề, miếu Ông Mốc17 ở Hòa Hải,... như John Brown đã từng nhận xét: “Bên rìa một lùm cây nhỏ gần vịnh Turon (Đà Nẵng), người ta đã treo hoặc đặt cố định vào giữa các cành những hộp nhỏ bằng gỗ hoặc những giỏ đan bằng dây liễu gai, một số chứa những hình ảnh tượng làm bằng các vật liệu khác nhau, một số khác mang những tờ giấy vẽ hoặc thếp vàng cắt ra thành những hình thù khác nhau, những tấm gỗ nhỏ trên viết những chữ Hán, và nhiều chỉ dẫn khác ghi về các thần linh được cúng tế”.18

2.3.2. Thờ nhân thần

Cũng từ cuộc sống gắn bó với tự nhiên nên trong tư tưởng của họ, những người nào đó không may bị sét đánh chết, bị chết đuối hay cây ngã đè chết, họ cũng cho đó là cái chết không bình thường, bất đắc kỳ tử, hẳn là có điều gì thiêng liêng uẩn khúc nên cũng thờ làm thần. Rồi còn cho rằng, có người từ nơi khác đến vùng đất mình đột ngột chết, qua đêm mối đùn lên thành mộ, họ cho là người chết thiêng nên cũng được tôn thờ làm thần. Thậm chí có người chết nghẹn, chết đuối cũng cho là chết khác thường,… và được tôn làm thần để thờ. Đặc biệt, từ thực tế của cuộc sống cũng đã xuất hiện những con người khỏe mạnh, mưu lược, tài ba, giết thú dữ, cứu thoát được nhiều người, hay những người có công với dân với nước, khi chết cũng được đưa vào các miếu thờ. Tất cả đã họp thành một lớp người được tôn thờ, đó là “thần người”.

Ở Ngũ Hành Sơn, nhiều miếu thờ liên quan đến nhân vật lịch sử, đã có công với dân với nước như miếu Huyền Trân công chúa thời nhà Trần, miếu Tiến Sĩ thờ Phi Vận tướng quân Nguyễn Phục thời nhà Lê, miếu thờ Quan Công - người anh hùng của Trung Hoa thời Tam quốc, cùng những miếu thờ khác liên quan đến những người đã hy sinh vì dân vì nước. Cho nên, từ lâu, các ngôi miếu thờ đã thực sự đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Việt trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn.

Giá trị của miếu thờ quận Ngũ Hành Sơn

Giá trị tâm linh tín ngưỡng     

Miếu thờ trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn là một trong những thiết chế văn hóa làng xã của người Việt, chứa đựng những giá trị văn hóa tâm linh sâu sắc. Đó là nơi nhân dân thể hiện lòng tôn kính, sự ngưỡng vọng của mình đối với các bậc thần linh, thần người, đồng thời cũng là nơi để họ thể hiện niềm tin cùng những ước vọng của mình trong cuộc sống.

Cư dân quận Ngũ Hành Sơn chủ yếu là người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ theo các cuộc Nam tiến đã vào đây định cư. Trên hành trang thiên di của họ, ngoài những vật dụng cần thiết cho công cuộc mưu sinh, họ còn mang theo trong tâm tưởng mình những vị thần gắn liền với tín ngưỡng dân gian ở quê hương cũ đến vùng đất mới để thờ phụng. Ngoài ra, khi đến đây, bên cạnh những vị thần của người Việt họ còn đón nhận cả những vị thần của người Chăm, họ Việt hóa rồi thờ phụng trong các ngôi miếu. Về sau, có cả những vị thần người Hoa như Quan Thánh Đế Quân, Châu Thương, Quan Bình, Thái Thượng Lão Quân, Ông Tơ Bà Nguyệt,… cũng được họ đưa vào miếu thờ. Thêm vào đó, họ luôn hướng đến các vị thần, đến những người đã khuất với sự tôn trọng và lòng thành kính sâu sắc. Do đó, vào các ngày lễ tết, ngày sóc, ngày vọng họ đều hương khói, cúng tế đầy đủ nhằm tưởng nhớ, ghi công ơn các vị thần.

Việc thờ cúng ở miếu thờ cũng là biểu hiện của tinh thần nhân văn trong ứng xử với môi trường xã hội. Ví dụ như việc thờ cúng các bậc tiền hiền khai canh lập ấp cũng nhằm giáo dục con cháu đạo lý “ăn quả nhớ người trồng cây”. Họ là những người có công khai khẩn đất đai, xây dựng làng xóm và đặt nền móng cho cuộc sống của con cháu sau này. Việc thờ cúng âm linh trong các miếu thờ cũng thể hiện tình cảm yêu thương, tấm lòng nhân ái của người dân đối với những người không may qua đời như cô hồn hay các chiến sĩ trận vong như Giáo sư Vũ Ngọc Khánh đã từng nhận xét: “Đền miếu Việt Nam là nơi chứng tỏ cái “lễ” của người Việt Nam (tất cả các dân tộc chứ không riêng gì người Kinh). Đâu đó vài định kiến với chữ “lễ”, cho là phong kiến hoặc là hình thức, quá hơn nửa là mê hoặc, ngu dân. Thực ra “lễ” là điều tiêu biểu văn hóa hơn cả… Tại các đền miếu Việt Nam, “sự lễ” rất được tôn trọng và phải công nhận là có tính chất Việt Nam, hợp với phong tục Việt Nam hơn cả”.19

Phần lớn lễ ở các miếu thường được tổ chức vào dịp xuân thu nhị kỳ. Thông qua hàng loạt nghi thức, nghi lễ và diễn xướng mang tính “thiêng”, người dân cầu mong mùa màng bội thu, phúc lộc đa đề. Điều quan trọng hơn là qua đó, người dân vững tin hơn vào chân lý thiện thắng ác, chính thắng tà, ở hiền gặp lành, ác giả ác báo,… cho dù niềm tin ấy có phần ngây thơ, hồn nhiên như chính tâm hồn của người nông dân chân chất.

Giá trị lịch sử

Miếu thờ trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn không những có giá trị tâm linh tín ngưỡng mà còn có giá trị lịch sử, gắn với hành trình mở cõi về phương Nam và lịch sử đánh giặc giữ nước của quân dân ta. Chẳng hạn, miếu thờ Huyền Trân công chúa (Hòa Hải) được nhân dân dựng lên với lòng biết ơn một vị công chúa đã hy sinh hạnh phúc của mình để góp phần mở mang bờ cõi Đại Việt mà vẫn giữ được hòa hiếu với vương quốc Chămpa; hay miếu Tiến Sĩ (Khuê Mỹ) thờ ngài Phi Vận tướng quân Nguyễn Phục, đánh dấu năm 1471, vua Lê Thánh Tông thực hiện cuộc Nam chinh bình Chiêm do quân Chiêm Thành quấy phá bờ cõi; hay trong những năm tháng kháng chiến chống giặc ngoại xâm, miếu thờ là nơi ẩn náu cho bộ đội, du kích. Nhiều