Chuyện nhỏ, thương nhiều...

02.10.2026
Đặng Thị Tuyết Phương

Chuyện nhỏ, thương nhiều...

Đà Nẵng vừa thức giấc. Trên vỉa hè một con phố nhỏ, chị lao công gom những chiếc lá cuối cùng còn sót lại sau đêm để kết thúc ca làm việc. Từ trung tâm thành phố, tôi chạy xe ngược về phía tây bắc chỉ hơn ba mươi cây số. Những tòa cao ốc lùi dần về phía sau, tiếng còi xe nhỏ dần trên đại lộ và khói xăng tan vào trong gió. Con đường ôm lấy triền núi xanh mượt hiện ra. Hai bên đường, màu xám của bê tông được thay bằng màu xanh của lá rừng. Thoang thoảng trong gió là mùi đất ẩm, mùi lá mục đã ngấm qua bao mùa mưa nắng và cả hơi lạnh từ đầu nguồn sông Cu Đê thổi xuống. Tôi cảm giác như thành phố đã khép lại chỉ sau một khúc cua không ngờ.

Tôi không biết mình đến Hòa Bắc - nơi trước đây là một xã thuộc huyện Hòa Vang, còn bây giờ là một phần của phường Hải Vân thuộc thành phố Đà Nẵng - để tìm một nơi chốn, hay tìm một câu chuyện. Có lẽ là một già làng, ông sống trong màu xanh của rừng, trong dòng Cu Đê, trong mái gươl và ký ức của những người chưa từng rời bỏ vùng đất đầu nguồn này. Mây phủ trên đỉnh núi giống như mái tóc già đã bạc theo năm tháng. Những triền núi nhấp nhô là những nếp nhăn hằn sâu vết thời gian. Còn dòng Cu Đê kia chẳng khác nào mạch máu vẫn âm thầm nuôi sống cả cơ thể già nua ấy. Có lẽ già làng của tôi đang ở đây rồi. Ông không hiện ra bằng hình hài của một con người mà ông chính là Hòa Bắc...

Địa hình Hòa Bắc chủ yếu là núi cao, rừng tự nhiên và những thung lũng nhỏ được dòng Cu Đê cùng các khe suối bồi đắp qua hàng nghìn năm. Mùa mưa, nước từ rừng sâu đổ xuống trắng xóa. Mùa nắng, cả không gian phủ một màu xanh dịu của cây lá và những cánh đồng ven sông. Hòa Bắc dường như còn giữ giúp thành phố cả nhịp đập của ký ức xa xôi.

Điểm dừng chân đầu tiên của tôi là cầu treo Tà Lang. Chiếc cầu nghịch ngợm khẽ rung theo từng bước chân người, như chào đón, như hân hoan. Đứng đây, thấy cảnh một người đàn ông Cơ Tu lùa đàn bò qua bãi cỏ ven sông, tít đằng xa bên kia là vài đứa trẻ vừa tan học, đứa cầm cặp sách, đứa ôm quả bóng nhựa, ríu rít chạy qua cầu mang theo tiếng cười hòa vào tiếng nước, tiếng gió xào xạc trên tán cây và tiếng chim gọi nhau từ phía rừng già, khiến người ta đến bao lần vẫn cứ muốn quay lại.

Tôi đứng rất lâu. Đến mức người bạn đi cùng phải nhắc: “Sao không đi tiếp?”. Tôi lắc đầu: “Hình như già làng đang kể chuyện”. Cô bạn nhỏ nhìn quanh: “Ở đây làm gì có già làng?”. Tôi chỉ xuống dòng Cu Đê: “Có, ông ấy đang nói đấy”. Bởi càng đứng lâu giữa núi rừng Hòa Bắc, tôi càng cảm thấy nơi này giống như một con người đã sống rất lâu, lâu đến mức không còn cần phải lên tiếng nữa. Chỉ riêng sự hiện diện của nó cũng đủ khiến người khác lắng nghe được những thanh âm thầm thì, khi xa xăm, khi lại gần bên tai như hơi thở mỏng nhẹ, nói với ta nhiều điều về thành phố. Tôi chợt nhớ một câu nói từng nghe ở đâu đó: “Muốn hiểu một vùng đất, hãy hỏi dòng sông của nó”. Có lẽ không nơi nào đúng với câu nói ấy hơn Hòa Bắc. Bởi nếu núi là dáng hình của vùng đất thì Cu Đê chính là ký ức của vùng đất này.

Dòng sông bắt đầu từ những cánh rừng nguyên sinh phía tây Trường Sơn rồi xuôi qua Hòa Bắc trước khi tìm đường về biển. Bao nhiêu đời người đã soi bóng xuống mặt nước ấy cùng bao mùa lũ đã đi qua. Những cuộc chia ly và đoàn tụ cũng từng in bóng xuống mặt sông. Để hôm nay, già làng của tôi chậm rãi kể lại những câu chuyện nhỏ bằng lời kể mỏng nhẹ như một vệt nắng đầu mùa nhưng lại không thể không khiến người ta phải kiên nhẫn chờ nghe. Già chậm rãi, con người có thể quên nhiều thứ nhưng sông thì không. Dòng Cu Đê chảy lặng lẽ như thể chẳng bận tâm đến thời gian, thế nhưng mỗi lớp phù sa lắng xuống đáy đều cất giữ một phần ký ức của vùng đất này. Nếu một ngày không còn ai nhắc đến trong những câu chuyện thường ngày, hoặc trong những trang sử của một cộng đồng không còn ghi chép, thì dòng sông vẫn nhớ và lưu giữ những điều bé nhỏ, bình dị đến vô cùng.

Tôi ngồi xuống một phiến đá ven bờ. Nước luồn qua những khe đá, tạo thành âm thanh đều đặn như tiếng một người già thủ thỉ kể chuyện: Dòng Cu Đê đã chứng kiến những biến thiên trầm hùng của lịch sử mở cõi. Nhớ năm xưa, sau cuộc hôn phối lịch sử của Công chúa Huyền Trân với vua Chế Mân, hai châu Ô, Lý trở về với Đại Việt, mở ra chặng đường giao thoa bền bỉ giữa hai nền văn hóa Chăm - Việt. Qua bao mùa lũ, dòng sông không chỉ là chứng nhân hiền hòa, lặng lẽ gối đầu lên những thăng trầm di sản. Rồi những đoàn người từ phương Bắc theo bước mở đất tiến về phương Nam. Họ mang theo hạt giống, tập tục và tiếng nói. Làng xóm cứ thế hình thành mà không cần bất cứ bản anh hùng ca nào ghi lại tên tuổi của họ. Thế nhưng mỗi thửa ruộng ven Cu Đê hôm nay vẫn còn lưu dấu những bàn tay đầu tiên đã phát rừng, khai đất, gieo hạt. Những điều rất nhỏ ấy nối tiếp nhau qua hàng trăm năm để làm nên dáng hình của vùng đất hôm nay.

Từ bao đời nay, đất luôn nhớ những người cày đầu tiên. Tôi nhìn những bãi bồi ven Cu Đê, đất vẫn màu mỡ như thuở nào. Có lẽ phù sa không chỉ bồi đắp ruộng đồng, nó còn âm thầm bồi đắp lòng biết ơn. Rồi chiến tranh lại đến. Đó là khoảng ký ức mà giọng kể của già làng dường như chậm hẳn theo cái dịu nhẹ của cơn gió ngang qua. Núi rừng Hòa Bắc từng chìm trong khói lửa. Có những năm tháng tiếng máy bay át cả tiếng chim, những con đường mòn xuyên rừng trở thành đường hành quân và nhà sàn trở thành nơi che giấu cán bộ. Có ai ngờ những con suối đầu nguồn cũng mang theo câu chuyện, âm thầm nuôi sống biết bao con người giữa bom đạn. Ngay cả Cu Đê cũng phải học cách lặng lẽ. Ban ngày, dòng sông vẫn chảy như không có gì xảy ra. Đêm xuống, nó đưa những chuyến đò bí mật sang bờ bên kia. Nó giấu trong lòng mình biết bao bước chân không bao giờ trở lại. Chiến tranh rồi cũng qua. Những vết thương trên thân cây khép miệng. Rừng nhớ những người đã ngã xuống con sông, nhớ những người đã mở đất. Và Hòa Bắc hôm nay được dựng nên từ chính ký ức ấy.

Nếu dòng Cu Đê là ký ức thì những cây cầu bắc qua nó chính là nhịp đập của hiện tại. Vầng mây bạc trôi lặng lẽ về phía cầu Tà Lang như ánh mắt già làng chậm rãi, mênh mông trong một ngày bình thường yên ắng. Ánh mắt ấy bình thản như thể đã nhìn thấy biết bao lần đổi thay của vùng đất này. Tôi nghe trong gió tiếng ông thầm thì: Ngày trước, sang sông không dễ. Mùa nắng còn có thể lội qua những bãi cạn. Đến mùa mưa, nước từ đầu nguồn Trường Sơn đổ xuống chỉ trong một đêm là con sông đổi khác. Dòng nước hiền lành ban sáng có thể trở thành con nước dữ khi chiều xuống. Người lớn đứng bên này gọi sang bên kia chỉ thấy tiếng vọng trả về từ vách núi. Có những chuyến nông sản đành nằm lại trên bờ vì nước lớn và đôi khi những người bệnh phải chờ nước rút mới sang được trạm xá. Và cũng có những đứa trẻ nghỉ học chỉ vì chiếc đò hôm ấy không thể rời bến.

Chiếc cầu xuất hiện, nó không chỉ nối hai bờ mà còn nối những mùa chia cắt với những ngày thuận tiện hơn. Những con đường bê tông cũng men theo sườn núi mà đến. Điện về. Trường học và trạm y tế gần hơn. Hình ảnh chiếc xe chở nông sản không còn phải dừng lại trước những bến đò trở nên quen thuộc trong trí nhớ mỗi người. Khách phương xa cũng tìm đến Hòa Bắc nhiều hơn, nhưng điều khiến tôi ngẫm nghĩ nhất lại là cách ứng xử của người nơi đây trước sự đổi thay ấy. Họ đón nhận nó bằng sự vui mừng nhưng không vội vàng, không hồ hởi đến mức quên mất mình là ai. Phát triển vốn là điều ai cũng mong. Nhưng phát triển thế nào để dòng Cu Đê vẫn còn trong, để rừng vẫn xanh, để những bản làng Cơ Tu vẫn nhận ra chính mình, có lẽ mới là điều khó.

Ở đây, sự phát triển đồng nghĩa với số cánh rừng còn giữ được và cả số người trẻ quyết định ở lại. Có lẽ đó cũng là cách Đà Nẵng đang lựa chọn cho các vùng đất của mình, trong đó có Hòa Bắc: Mở đường, mở cơ hội, nhưng vẫn để người dân được sống bằng chính văn hóa của mình. Một đô thị đáng sống chính là còn những vùng đất giữ được linh hồn. Hòa Bắc hôm nay đang góp vào diện mạo ấy bằng sự bình yên, bền vững và tử tế của mình.

Rời cầu Tà Lang, tôi vòng xuống phía Nam Yên. Thung lũng mở ra bất ngờ sau một triền đồi thấp. Dòng Cu Đê uốn mình như một chiếc khăn voan xanh lững lờ ôm lấy chân thung lũng rồi lặng lẽ xuôi về hạ lưu. Giữa màu xanh của rừng, một màu xanh khác hiện lên. Đó là những giàn nho. Thoạt nhìn, tôi ngỡ mình nhầm. Giống nho vốn quen với cái nắng gắt của miền đất Phan Rang lại đang xanh tốt giữa vùng bán sơn địa này. Trong số những con người chọn ở lại, chọn học cách sống cùng núi rừng như cha ông họ từng sống, có một người là chủ nông trại. Anh đón chúng tôi giữa giàn nho đang kết trái. Anh chẳng hỏi chúng tôi từ đâu đến. Người đàn ông ấy chỉ mỉm cười, lặng lẽ buộc lại một cành nho vừa trĩu quả rồi mới phủi lớp đất còn bám trên hai bàn tay sạm nắng. Ngày anh đặt chân đến Nam Yên, nơi này còn hoang vu. Con đường chỉ là lối đất đỏ ngoằn ngoèo. Mùa mưa, bánh xe lún sâu trong bùn. Mùa nắng, bụi đỏ phủ kín vai áo. Đêm xuống, không có ánh đèn của phố thị, chỉ còn tiếng côn trùng, tiếng gió luồn qua rừng và tiếng nước Cu Đê vọng lên từ dưới thung lũng. Anh dựng một căn lều nhỏ và tự phát cỏ, tự dẫn nước, tự học cách làm bạn với mảnh đất mà trước đó mình chưa từng hiểu. “Tôi cũng từng muốn bỏ cuộc” - anh nói rất nhẹ, ánh mắt vẫn dõi theo những chùm nho đang lớn. “Có năm mưa kéo dài, cả vườn gần như mất trắng. Có lúc người ta bảo đất này chỉ hợp trồng keo, trồng bắp. Mang nho lên đây là chuyện viển vông”. Anh cúi xuống, bốc một nắm đất. Đất tơi, mịn và còn hơi ẩm: “Nhưng đất chưa bao giờ phụ người chịu khó”.

Ở Hòa Bắc, con người học cách sống cùng thiên nhiên. Như người Cơ Tu từ bao đời nay vẫn vào rừng với lòng biết ơn. Họ lấy của rừng vừa đủ. Họ giữ những cánh rừng đầu nguồn như giữ chính mạch sống của bản làng. Chủ vườn nho cũng vậy. Anh không bắt đất phải thích nghi với mình. Anh dành nhiều năm để hiểu từng hướng gió, từng mùa mưa, từng lớp sương buổi sớm, từng dòng nước của Cu Đê. Có lẽ vì thế mà những giàn nho ấy không hề lạc lõng giữa đại ngàn. Chúng giống như một cuộc trò chuyện mới giữa con người và vùng đất cũ. Bây giờ, mỗi cuối tuần, Nam Yên đón nhiều du khách hơn. Người đến hái nho, người đến uống một tách cà phê nhìn xuống thung lũng, người mang theo con nhỏ để chúng biết ngoài thành phố còn có những nơi tiếng chim vẫn véo von, vang từng giọt tròn như niềm vui vỡ òa trong nắng sớm... Có lẽ, cũng như những giàn nho kia, anh đang lớn lên cùng Hòa Bắc. Người đàn ông ấy không chỉ trồng nho. Anh đang thử một cách làm nông nghiệp mới giữa vùng bán sơn địa, kết hợp sản xuất với trải nghiệm, để nông sản đi cùng du lịch. Từ những giàn nho ấy, ai cũng phải thừa nhận sự sáng tạo không phải lúc nào cũng bắt đầu trong phòng thí nghiệm mà có khi nó bắt đầu từ một người dũng cảm ở lại với vùng đất mình tin yêu.

Chiều dần buông. Khói bếp bắt đầu bay lên. Già làng không dẫn tôi đi tiếp. Ông chỉ lặng lẽ đưa mắt về phía mái gươl dưới chân núi. Tôi men theo con đường nhỏ dẫn vào bản. Ở cuối con đường dẫn vào thôn Tà Lang, mái gươl hiện ra trong ánh hoàng hôn, lặng lẽ như trái tim đã âm thầm giữ nhịp cho Hòa Bắc qua bao thế hệ. Từ bao đời nay, gươl là nơi mọi con đường của bản làng đều hướng về. Ngay khi bước chân đặt lên sàn gỗ, điều đầu tiên tôi cảm nhận được không phải là không gian thô mộc, mà là mùi gỗ rừng đã ngấm khói qua nhiều mùa mưa nắng, mùi tre nứa hong khô, mùi nhựa cây còn ẩn sâu trong từng cột nhà. Và đâu đó là mùi cơm lam mới chín từ căn bếp phía sau. Có những nơi chỉ cần nhìn là biết tuổi, mà có những nơi phải nhắm mắt lại mới nghe được tuổi của nó. Gươl thuộc về kiểu thứ hai.

Không gian bên trong không ồn ào. Mấy người đàn ông đang sửa lại chiếc gùi tre đặt ở góc nhà. Một người phụ nữ ngồi dệt tấm thổ cẩm với đôi bàn tay thoăn thoắt như thể từng đường chỉ đã trở thành nhịp thở. Ngoài sân, vài đứa trẻ đuổi nhau cười vang rồi bất chợt dừng lại khi thấy một cậu bé ôm chiếc cồng nhỏ bước vào. Người dân nơi đây hiểu rằng, nếu hôm nay không có những nhịp cồng còn chênh chao ấy, thì vài chục năm nữa sẽ chẳng còn tiếng cồng nào nữa. Quả thật, gìn giữ văn hóa chưa bao giờ là những khẩu hiệu lớn lao. Đó là việc một người già kiên nhẫn ngồi chờ một đứa trẻ đánh đúng một nhịp cồng, hay việc một người mẹ vẫn cặm cụi dạy con gái cách dệt tấm thổ cẩm đầu tiên, cả việc một người cha dẫn con trai vào rừng, chỉ cho con đâu là cây thuốc, đâu là khe nước đầu nguồn không bao giờ được làm vẩn đục. Những việc ấy diễn ra lặng lẽ mỗi ngày. Không ai nghĩ mình đang giữ gìn di sản, nhưng chính chúng đã làm nên linh hồn của Hòa Bắc.

Khi tôi bước ra khỏi gươl, nắng chiều đã nghiêng xuống những triền đồi thoai thoải. Trước sân, một người đàn ông Cơ Tu đang cùng mấy thanh niên chuẩn bị những tấm thổ cẩm và vài chiếc gùi tre để đón đoàn khách cuối ngày. Người bạn đi cùng khẽ nói: “Đó là A Lăng Như”. Anh cười hiền, cái cười mộc như màu gỗ cũ của gươl. Chúng tôi chỉ trò chuyện đôi ba câu, nhưng đủ để hiểu vì sao nhiều người vẫn nhắc đến anh khi nói về Hòa Bắc. Anh bảo, làm du lịch không phải để bản làng đông khách hơn, mà để con cháu sau này vẫn còn muốn ở lại với bản làng. Có lẽ vì những con người như A Lăng Như mà Hòa Bắc hôm nay không chỉ giữ được ký ức của mình, mà còn biết cách gửi những ký ức ấy cho người phương xa bằng sự chân thành và bình dị. Tôi chợt hiểu, Đà Nẵng không chỉ được nhận diện bởi những cây cầu bắc qua sông Hàn hay những đại lộ hướng ra biển; thành phố ấy còn được nhận diện bởi những con người lặng lẽ như A Lăng Như, như người chủ vườn nho ở Nam Yên - những người chọn ở lại để giữ rừng, giữ tiếng cồng chiêng, giữ màu xanh của Cu Đê. Chính họ đang làm nên một Đà Nẵng nghĩa tình và nhân văn từ những việc rất nhỏ mỗi ngày.

Đêm đã phủ kín đại ngàn với tiếng gió đi qua mái gươl. Lần đầu tiên trong suốt chuyến đi, tôi hiểu vì sao Hòa Bắc không phát triển bằng mọi giá. Người nơi đây không giữ rừng vì rừng đẹp, không giữ dòng sông vì nó thu hút khách du lịch. Họ giữ bởi họ biết, nếu đánh mất thiên nhiên thì cái mất đi trước tiên không phải là cảnh quan mà là chính quê hương của mình. Có lẽ tương lai của Đà Nẵng không chỉ được dựng nên từ những khu công nghệ cao hay những tuyến đường mới mở. Nó còn được dựng nên từ quyết tâm giữ lại những cánh rừng đầu nguồn, giữ những bản làng còn vang tiếng cồng chiêng và giữ những người trẻ vẫn muốn trở về quê hương để lập nghiệp.

Hôm sau, tôi rời Hòa Bắc khi sương vẫn còn phủ mờ mặt sông. Những dải mây mỏng lững lờ giăng mắc trên lưng núi. Cả bản làng còn chưa thức hẳn. Chỉ có tiếng gà rừng vọng từ triền đồi đối diện và dòng Cu Đê vẫn cần mẫn chảy như từ ngàn năm trước. Vùng đất ấy chỉ lặng lẽ gieo vào mỗi người một hạt mầm của sự bình yên. Ai đủ duyên thì mang theo. Ai đủ thương thì sẽ trở lại. Tôi ngoái lại, dòng Cu Đê vẫn chảy, mái gươl vẫn nằm yên dưới chân núi và già làng của tôi vẫn ở đó, lặng lẽ như bao đời nay. Ông sẽ còn kể những câu chuyện của Hòa Bắc cho bất cứ ai biết dừng chân để lắng nghe...

Về Hòa Bắc để thấy, chuyện thì nhỏ, mà thương thì rất nhiều!

Đ.T.T.P