Việt An - Từ điểm nhìn hôm nay

Ban mai yên bình ở Việt An
1. Trên trục đường Quốc lộ 1 từ trung tâm thành phố Đà Nẵng hướng vào phía nam 40 ki-lô-mét, lại theo trục quốc lộ 14E về hướng tây khoảng hơn 20 ki-lô-mét là địa phận xã Việt An.
Xã Việt An có diện tích tự nhiên 150,17 km², dân số khoảng 26.196 người (tính đến năm 2025). Xã được thành lập trên cơ sở sáp nhập toàn bộ địa giới hành chính của 4 xã Thăng Phước, Bình Sơn, Quế Thọ và Bình Lâm - trước đây thuộc huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam. Các cụ cao niên trong xã cho biết, tên Việt An khởi thủy là một tên làng, rồi thành tên chợ từ thời Nguyễn. Và vào thời xa xưa ấy, chợ Việt An không chỉ là đầu mối giao thương mà còn là nơi giao lưu văn hóa, có sức ảnh hưởng lan rộng cả một vùng rộng lớn. Do vậy, khi lập đơn vị hành chính mới, lấy tên xã là Việt An, người dân bốn xã cũ ai nấy đều hân hoan như được trở về mái nhà xưa.
2. Ưu thế vượt trội của xã Việt An là diện tích đất nông nghiệp lớn và được phủ mạng lưới thủy lợi rộng khắp; thu nhập từ nông nghiệp đảm bảo cho đời sống người dân. Hồ thủy nông Việt An là công trình lớn thứ hai của tỉnh Quảng Nam cũ nằm trên địa bàn xã - một “nguồn vốn” mà xã được thừa hưởng từ gia tài của “mẹ Quảng Nam”. Từ hồ Việt An tỏa ra những dòng kênh dẫn nguồn nước mát xuyên qua thôn xóm, xuyên qua làng mạc, tỏa xuống những cánh đồng cho mùa màng bội thu. Đã thôi cái cảnh thất bát trái mùa của bao đời trước. Những “con trâu sắt” thay cho sức kéo cổ truyền, phân bón vô cơ, thuốc trừ sâu, đường giao thông nông thôn xuyên qua cánh đồng đã góp phần tiết kiệm thời gian và công sức người lao động. Ngày nay nhìn những người dân đi xe máy thảnh thơi ngắm thửa ruộng của mình mà giật mình chợt nhớ đây là giấc mơ đã bao đời. Dòng kênh cũng đóng vai trò điều tiết cái nắng nóng ngày hè, làm cho không gian trở nên mát dịu.
Địa bàn xã Việt An như một thung lũng nhỏ nằm giữa những cánh rừng bạt ngàn: Núi Gai, núi Ngang, Liệt Kiểm, Lạc Sơn, rừng Già. Đó là nguồn tài nguyên rừng giàu có. Rừng từ xưa đã cho con người từ gỗ quý, cây dược liệu, thịt muông thú. Ngày nay, để đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn, rừng được sản xuất và khai thác tập trung chủ yếu vào cây keo lá tràm, vừa tạo việc làm cho người lao động vừa là nguồn kinh tế dự trữ khá ổn định cho các hộ gia đình trồng rừng. Song, chừng như có chút nuối tiếc, tấm phổi xanh cho người, tấm khiên bảo hộ mùa mưa lũ đã suy giảm chức năng đáng kể. Và, rừng đâu chỉ là nguồn lợi kinh tế, rừng còn là nguồn dự trữ sinh quyển, rừng còn là ký ức văn hóa… Bao đòi hỏi khiến xã Việt An nay phải quan tâm đúng mức và quy hoạch đúng tầm.
Tuy nhiên, tài nguyên lớn nhất của địa phương vẫn là con người. Người dân Việt An từ mấy trăm năm khai làng lập ấp đã mang khát vọng an bình, giàu có. Đó cũng là khát vọng truyền thống được tiếp nối từ đời này sang đời khác. Thật thú vị khi trong mười bốn thôn mới của xã đã có 5 thôn mang chữ An, 3 thôn mang chữ Phú. Chữ An trong Việt An, Lộc An, An Tráng, An Sơn, An Cường; chữ Phú trong Phú Bình, Phú Mỹ, Phú Cốc. Không phải là vùng đất mà con người anh hoa phát tiết như những nơi khác, nhưng người Việt An luôn có ý chí học hỏi, tự bồi đắp, tự vươn lên để kịp với đòi hỏi của thời đại. Việt An tự hào là vùng đất có nhà thờ Bát tộc ghi tên tám vị tiên hiền đã có công khai đất lập làng đã bốn trăm năm; nơi có chợ Việt An - một trong những chợ lớn có đóng góp kinh tế, văn hóa được ghi tên trong địa bạ thời nhà Nguyễn. Việt An tự hào với tên tuổi cụ Nguyễn Mậu Hoán, một trong tứ hổ đỗ phó bảng khoa thi năm Tân Sửu (1901)... Và trong nhịp sống hôm nay, bao nhiêu học sinh từ những ngôi trường núp bóng dưới những rặng cây, những chân đồi đã thi đỗ vào các trường đại học danh tiếng trong và ngoài nước, nhập vào đội ngũ đông đảo kỹ sư, bác sĩ, nhà giáo, nhà văn… Họ luôn ý thức vị trí, trách nhiệm và danh dự của người trí thức trong xây dựng cuộc sống mới.
Đáng tự hào nhất vẫn là tinh thần chịu khó, nhẫn nại của người nông dân một nắng hai sương, sáng lên nương chiều lội ruộng mà nuôi những đứa con ngồi ở các giảng đường đại học. Tôi nghĩ sức bật của Việt An không ở đâu xa mà trước hết chính từ những con người cần cù và ý chí luôn dồi dào năng lượng ấy...
3. Tiềm lực văn hóa xã Việt An như vậy đủ để cho người ta một niềm tin. Song, thành thực mà nói, vẫn chưa thật rực rỡ xứng tầm ngày mới. Điện, đường, trường, trạm đã là đạt tiêu chí nông thôn mới, nhưng cuộc sống hôm nay đòi hỏi nhiều hơn, cần nhiều hơn thế. Thu nhập bình quân đầu người phải cao hơn, an sinh xã hội phải đảm bảo hơn. Cần một tinh thần văn hóa, một nếp sống văn hóa trên tổng thể, trong cụ thể. Thư viện hợp tác xã Bình Lâm I từng một thời đóng vai trò hỗ trợ tri thức cần được khôi phục, phát huy. Ước ao sao từng mét đường kênh ngang qua địa bàn xã luôn được nạo vét, tu bổ, tôn tạo thành những bến tắm, bãi tắm để bà con được tha hồ ngụp lặn những ngày hè. Thủy lợi theo những tuyến mương kênh nhỏ sẽ đem nước đến tắm mát cho những vườn cây, tạo nên một nông thôn nhà vườn xanh trĩu quả. Và thảm thực vật rừng từng bước hồi phục, rừng nguyên sinh được chú ý khôi phục và nuôi dưỡng… tạo nên một môi trường sinh thái thật xanh, sạch, đẹp.

Giếng nước Đại biểu Quốc hội, di tích lịch sử cấp tỉnh ở xã Việt An
Tôi cũng nghĩ về một chuỗi kết nối du lịch sinh thái vùng tây thành phố Đà Nẵng với những điểm đến tiềm năng như làng Đại Bình thuộc xã Nông Sơn, Hòn Kẽm - Đá Dừng thuộc hai xã Quế Phước và Hiệp Đức… và hồ Việt An, giếng Quốc hội - địa điểm lịch sử được công nhận là điểm di tích văn hóa cấp tỉnh ở xã Việt An, cũng trở thành điểm đến lý tưởng. Con dân Việt An từng đi đó đây, từng quan sát vẻ đẹp sinh thái làng ở Quảng Ninh, Đà Lạt, Buôn Mê Thuột… hẳn sẽ nhận ra quê mình cũng có đủ điều kiện nền để xây dựng một không gian sinh thái để làm giàu, để hưởng thụ, để thu hút bạn bè phương xa đến khám phá.
Như một chuyện gần đây, Hội Nhà văn thành phố Đà Nẵng thăm dò ý kiến tôi rằng có thể mở trại sáng tác tại hồ Việt An được không? Tôi thật băn khoăn, muốn lắm, mà chưa đủ điều kiện.
Trong tầm nhìn dài hạn, lãnh đạo xã Việt An chú trọng định hướng đầu tư hạ tầng đồng bộ, mở rộng giao thông kết nối liên vùng và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Tăng tỷ trọng phát triển công nghiệp và dịch vụ du lịch trong cơ cấu kinh tế. Về tổ chức hành chính, xã Việt An được cơ cấu lại từ các thôn, tổ dân cư hiện có của các xã cũ, tạo thuận lợi trong quản lý nhà Nước và giữ gìn bản sắc văn hóa cộng đồng. Chính quyền địa phương đã được kiện toàn, đảm bảo hoạt động hiệu quả, ổn định, tạo tiền đề cho quá trình phát triển trong giai đoạn mới... Với tiềm năng, nguồn lực và định hướng ấy, người Việt An lắng nghe, mong chờ một diện mạo mới, một vị thế mới của xã nhà.
4. Tự những ngày thơ ấu tôi đã thuộc lòng câu hát ru: “Ru em, em ngủ cho muồi/ Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu/ Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu/ Mua cau Đông Phú, mua trầu Việt An”. Có lẽ đây là một trong những câu hát xưa nhất về quê nhà, bởi dấu vết di thực từ Bắc vào Trung trong các địa danh là khá rõ.
Rồi, không biết đến giờ những cụ ông cụ bà tuổi trên dưới sáu mươi có còn nhớ lời hát một thời vang lên hồ hởi này không: “Ai có về Bình Lâm hôm nay đổi mới, ghé chợ Việt An quê tôi tuyệt vời...”. Đó là ca từ trong bài hát Bình Lâm khúc hát tự hào của Phan Hoàng Dũng, được sáng tác vào những năm tám mươi của thế kỷ trước và được rất nhiều người thuộc. Lời hát đơn sơ mà nói lên nhiều điều: nhân dân Việt An ngay trong những tháng ngày còn gian khổ vẫn rất yêu quê hương, luôn tự hào về quê hương, luôn lạc quan, hy vọng về một ngày mai tươi sáng...
Cũng trong da diết yêu thương, nhà thơ Dương Quang Anh, một người con của xã Việt An, đã viết nên lời thơ mộc mạc mà thấm thía: “Biển dưới em con cá chuồn ngon lắm/ Anh trên nguồn trái mít phải lòng theo/ Cả đời cha cày bới lượm đói nghèo/ Vẫn khen đất mình chưa mưa đà thấm”... (Về thôi em). Bài thơ này từng được chọn đưa vào giảng dạy trong chương trình Văn học địa phương của tỉnh Quảng Nam...
Những khúc hát tự hào và yêu thương ấy cần được viết lại, hôm nay, hào hứng hơn, mê say hơn, tha thiết hơn. Và thực tế hơn!...
K.N