Ba tôi

Có những ngày tháng tôi đi tìm ba trong ký ức của người khác. Tôi cố nhặt nhạnh từng mẩu chuyện cũ, từng gương mặt quen xưa, từng nơi chốn ba từng đi qua... như thể chỉ cần gom đủ những mảnh rời ấy, tôi sẽ chạm được vào bóng dáng ba. Nhưng càng tìm, tôi lại càng thấy ba như đang lùi xa vào miền quá vãng, thẳm sâu và mờ khuất.
Cho đến một ngày, khi đọc được bốn câu thơ của William Blake: “Để thấy vũ trụ trong một hạt cát/ Và bầu trời trong một đóa hoa rừng/ Hãy giữ vô cùng trong lòng tay bạn/ Và thiên thu trong một khắc đồng hồ…”, tôi chợt nhận ra mình đã tìm sai hướng.
Tôi cứ ngước mắt nhìn ra bên ngoài mà quên mất rằng ba không chỉ là một hình ảnh bất động nằm yên trong ký ức. Không, ba vẫn đang hiện hữu sinh động trong chính tôi - trong dòng máu âm thầm chảy qua huyết quản, trong những thói quen tôi vô thức mang theo, trong cách tôi lặng im trước một nỗi buồn hay khi trái tim chợt rung cảm trước một điều thiện lành nhỏ nhoi giữa cuộc đời.
Từ khoảnh khắc ấy, những dòng hồi ức này không còn là hành trình đi tìm hay phục chế hình bóng của một người đã khuất, mà là một hành trình tự nhận thức, đi ngược vào chính mình để cảm nhận ba bằng tất cả chiều sâu của một đứa con trai sau gần nửa thế kỷ vắng bóng ba.
Từ ngày bé thơ chập chững bước vào lớp vỡ lòng, ba gửi tôi theo học trường cô Ấn, thầy Long. Đó là một ngôi trường tư nhỏ xíu, nghèo nàn với bốn bức tường gạch vôi loang lổ cũ kỹ, úp lên nền đất nện lát gạch thẻ đã hư hỏng bong tróc nhiều nơi. Trường lọt thỏm trong dãy phố nghèo, rào bọc bởi hàng rào cây dại. Lối vào trường như đi vào một con hẻm cụt. Đầu hẻm là cái giếng làng, đi sâu vào chừng mươi lăm thước là thấy cây “loăn quăn” án ngữ ngay trước cửa, vừa đóng vai trò như cây đa làng, vừa như một trụ cờ. Cây loăn quăn không to như đại thụ, nhưng qua ánh mắt trẻ thơ ngày ấy, nó cũng sừng sững lắm. Tôi cứ thắc mắc sao người ta lại đặt cho nó cái tên nghe như loài thảo mộc yếu ớt đến vậy.
Ngôi trường âm u, cửa ngõ trống huơ trống hoách, để mặc cho mưa nắng tự do ùa vào. Tôi còn nhỏ quá nên chẳng biết di tích này vốn là gì, hình như là một ngôi đình làng hay cái miếu thờ bỏ hoang được tận dụng làm nơi cho trẻ con học cái chữ đầu đời. Bàn ghế là những tấm gỗ bìa còn nguyên hình dạng: tấm to làm bàn, tấm nhỏ làm ghế, xen kẽ với những dãy ghế ghép lại từ hai cây tre vừa đủ chỗ cho các trò ngồi học.
Nhà tôi cách trường một mảnh vườn, nên đi học cứ băng qua vườn là tới. Trường chỉ có hai lớp: cô Ấn dạy lớp lớn, thầy Long dạy lớp vỡ lòng. Thầy Long là bạn của ba. Những buổi chiều rảnh rỗi, thầy thường ghé nhà tôi trò chuyện. Mỗi lần như vậy, ba lại sai tôi rót nước mời thầy. Tôi cung kính bưng bát nước bằng hai tay trao thầy rồi khoanh tay lễ phép: “Mời thầy!”. Thầy lại xoa đầu khen ngoan, còn ba thì nhìn tôi mỉm cười hài lòng.
Vì nghĩ thầy Long là chỗ quen thân với ba nên tôi đâm ra “dễ ngươi” ngay từ buổi học đầu tiên. Trong giờ, tôi xoay qua xoay lại không tập trung. Thầy gõ thước nhẹ lên bàn, nghiêm khắc cảnh cáo: “Lo tập trung mà học, nếu không muốn học thì cầm vở về nhà mà chơi!”. Bẽ bàng vì bị thầy xem như người xa lạ, tôi vừa khóc vừa ôm cặp chui qua gầm bàn, băng vườn chạy xộc về nhà.
Trên đường về, tôi tưởng tượng cảnh ba sẽ ôm tôi vào lòng an ủi, rồi lên trường bảo thầy Long ưu ái cho tôi. Nhưng vừa thấy tôi, ba đã hỏi: “Sao về nhà?”. Tôi mếu máo: “Thầy Long đuổi con!”. Ba đứng phắc dậy, vớ lấy cây roi nện cho tôi một roi đau điếng: “Lên trường xin lỗi thầy rồi vào học! Có sao thầy mới đuổi chứ. Còn đứng đó tui đánh cho nát đít!”.
Ba tôi là người nói một là một, hai là hai. Từ lâu tôi đã sợ cái uy nghi ấy, nay lại nghe tiếng “tui” xa lạ cất lên, tôi sợ hãi chạy xộc lên trường. Đến nơi, tôi đã thấy ba trang phục nghiêm chỉnh trong vai người phụ huynh đang trịnh trọng trò chuyện cùng thầy. Thấy tôi, thầy Long ra hiệu vào lớp, còn ba trừng mắt: “Vòng tay xin lỗi thầy rồi vào học!”. Tôi khoanh tay, lí nhí trong miệng. Ba nghiêm giọng: “Nói rõ từng lời, hứa từ nay không tái phạm nữa!”.
Bấy giờ, tôi cảm thấy xung quanh mình bỗng trống hoang trống hoách như chính ngôi trường không cửa nẻo này. Một cảm giác lành lạnh ngập tràn cơ thể. Tôi hoàn toàn mất đi điểm tựa từ bên ngoài. Ba, thầy Long, và chắc chắn cả mẹ nữa, từ nay sẽ chẳng còn ai đứng về phía tôi! Để thoát khỏi nỗi bơ vơ đó, tôi hiểu chỉ còn một cách duy nhất: Lo học.
Chính từ lằn roi đầu đời ấy, tôi đã vươn lên trở thành học sinh xuất sắc ở bậc tiểu học tại Trường Vân Côi - ngôi trường nổi tiếng nghiêm khắc do các xơ thuộc giáo phận Tam Kỳ đảm nhiệm.
Người ta thường nói “Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho ngào”. Nhưng với ba tôi thì không hẳn như vậy! Nhờ một biến cố khác trong đời đi học, tôi mới nhận ra điều này.
Năm tôi 11 tuổi, mẹ mất. Ba một tay chăm sóc bà cố bị mù lòa, một tay lo cho ba anh em tôi. Thấy ba quá vất vả, cô đem mấy anh em về nuôi và lo cơm nước cho cả đại gia đình. Bữa ăn của bà cố, ông nội và ba do tôi đảm nhận việc đưa cơm. Ông nội đã cả đời bon chen vất vả xây dựng cơ ngơi cho dòng họ, nay tuổi cao sức yếu, cô khuyên ông vào ở “nhà trong” với ba cho yên tĩnh và tự tay đứng ra làm bún nuôi cả nhà.
Sống với cô, ngoài việc đưa cơm và học hành, tôi không phải làm gì cả. Khác hẳn khi ở với ba: từ quơ củi, nấu cơm, quét nhà, múc nước,... việc nào ra việc nấy đường hoàng, dứt khoát, không được làm cho xong chuyện. Được cô cưng chiều, lòng tôi như cánh diều tự do chao liệng. Sự thong dong ấy dần biến tôi thành một cậu học trò biếng nhác lúc nào không hay.
Cùng với tính tự mãn từ bậc tiểu học, tôi xem nhẹ sức học của bạn bè mà không hề biết rằng chương trình trung học khác xa tiểu học. Ở bậc trung học chỉ dựa vào trí thông minh là chưa đủ. Nếu không chăm chỉ rèn luyện cho thành thạo các kỹ năng thì có thông minh đến đâu cũng không dễ gì chiếm lĩnh tri thức với các định lý, định luật, phương trình, công thức vừa phức tạp vừa trừu tượng được.
Tôi sa chân ngay từ đầu cấp. Lớp Đệ Thất, Đệ Lục còn gượng được, chứ sang Đệ Ngũ (lớp 8) rồi lớp 9, tôi bắt đầu mơ hồ trước toán quỹ tích, hằng đẳng thức... Đến lớp 10, tôi hoàn toàn bất lực trước môn tân toán học. Tôi gục ngã khi thầy giáo sư cố vấn thông báo: “Em phải thi lại mới được lên lớp 11!”.
Bây giờ thì không thể giấu ba được nữa. Tôi biết ba sẽ thất vọng đến mức nào, giông tố chắc chắn sẽ ập xuống. Nhưng thà chịu trừng phạt còn hơn sống trong nỗi xấu hổ ê chề. Gom hết can đảm của một đứa con hư, tôi trình bày sự việc với ba. Thật bất ngờ, phản ứng của ba lại vượt xa tầm suy nghĩ của tôi. Ba từ tốn nói: “Con biết được như vậy là quý rồi! Việc mình làm mình tự chịu trách nhiệm. Sống ở đời cần biết việc gì đúng việc gì sai. Có ai mà không sai. Nếu sai, mình có biết sửa đổi hay không mới là điều quan trọng. Học trước hết là để làm người!”.
Không mắng mỏ, không bạo lực, không thuyết giảng rườm rà nhưng từng lời lại thấm thía vô cùng! Ba dạy tôi bằng một tình thương vượt ra ngoài khung thưởng - phạt thông thường. Lằn roi ngày nhỏ là để cho tôi biết lỗi. Khi tôi đã tự nhận thức được rồi, thì dẫu lỗi lầm có lớn đến đâu cũng chẳng cần đến roi vọt nữa. Bài học làm người đầu tiên tôi cảm nhận được từ ba chính là lòng tự trọng.
Bài học ấy càng định hình rõ nét hơn khi tôi chập chững bước vào ngành sư phạm. Trong đêm trước ngày tôi nhận nhiệm sở, ba dặn: “Ra đời không sợ người ghét mình mà chỉ sợ người khinh mình. Bởi vì, cái ghét là của họ. Họ ưng thì họ ghét. Đức Phật từ bi vô lượng thế mà có kẻ ghét huống chi mình. Còn để họ khinh là do mình chứ không phải do họ. Mình có làm điều gì đáng khinh họ mới khinh. Khi không làm điều xằng bậy thì có muốn họ khinh, họ cũng không khinh được!”.
Ba tôi còn nhắc nhở thêm: “Ngoài xã hội ai cũng thích giao du với người hiền lành. Nhưng có hai loại người hiền lành: Một do bản chất hiền lành; hai do bất tài vô tướng. Người ta tôn trọng người có bản chất còn xem thường, thậm chí muốn đè đầu cưỡi cổ loại người bất lực. Con là đứa hiền lành, ít nói, con phải tỏ rõ bản chất hiền lành của mình thì không có ai xem thường con được!”.
Đây chính là kim chỉ nam theo tôi suốt 50 năm gắn bó với ngành giáo dục. Dù nhiều người bảo tôi là người hiền lành, tôi vẫn luôn nhận được sự yêu thương và tin cậy trọn vẹn từ học sinh và đồng nghiệp.
Nhớ lại thời tiểu học, một buổi sáng sớm, ba gọi tôi dậy và dẫn ra vườn, dừng lại trước cây chuối lùn đang trổ. Ba hỏi: “Con có thấy gì không?”. Tôi thản nhiên: “Thì cây chuối trổ buồng bình thường mà ba”. “Con quan sát thật kỹ xem có gì lạ không?”. Tôi chăm chú nhìn từng nải chuối, từng quả chuối xem có dính đôi dính ba không, rồi nhìn kỹ búp chuối chưa nở hết... vẫn không thấy gì khác thường.
Bấy giờ, ba mới chỉ cho tôi lớp phấn mịn bám ngoài bắp chuối và dòng nhựa trong suốt đang chảy ra từ đầu gióng chuối. Ông giải thích: “Lớp phấn này, dòng nhựa này là để nâng đỡ cho cây chuối sinh nở được dễ dàng. Tạo hóa sinh ra bất cứ điều gì cũng đều có ý riêng. Nếu con biết chú ý, con sẽ hiểu được tiếng nói của tạo hóa!”.
Câu nói ấy như mở ra một vùng trời mới, kích thích đứa trẻ trong tôi ham thích tư duy về thế giới xung quanh. Những câu hỏi “Tại sao lại như thế?”, “Như thế để làm gì?” luôn thôi thúc tôi tự tìm lời giải hợp lý. Nhờ vậy, tôi không còn sợ hãi mỗi khi vô tình nuốt phải hạt nhãn, hạt mãng cầu - điều mà bạn bè tôi thường thêu dệt rằng hạt sẽ mọc thành cây trong bụng làm người ta chết!
Kiểu tư duy ấy giúp ích cho tôi rất nhiều khi tôi nỗ lực học tập để sửa chữa sai lầm. Tôi không bao giờ chịu thỏa mãn với sự mơ hồ mà luôn muốn hiểu tường tận bản chất môn học. Đặc biệt nó làm tôi yêu thích khi được học môn Triết học hơn. Trong bài nhập môn, vì mới tiếp cận lần đầu, bạn bè tôi ai cũng hứng khởi và khoái chí với câu nói: “Chân lý ở bên này dãy Pyrenees, còn ở bên kia là phi chân lý”. Không biết câu này có đúng nguyên văn hay không? Cách diễn đạt có đúng với hàm ý của người nói không? Riêng tôi không tin đó là câu nói của nhà triết học. Chân lý là chân lý, bên này hay bên kia cũng không thay đổi được chân lý. Khác nhau có chăng là khác nhau về hiện tượng mà thôi. Tôi tin là suy luận của mình không sai. Tôi trung thành với cách tư duy theo gợi ý của ba tôi cho đến ngày nay, khi tuổi tôi đã ngoài thất thập.
Năm tôi 10 tuổi, gia đình trải qua một biến cố lớn: bà cố và bà nội tôi cùng tạ thế trong một ngày! Ông nội suy sụp tinh thần nhanh chóng. Một mình ba gánh vác việc đại sự. Vừa mất mẹ, vừa mất bà, nỗi đau chồng chất nỗi đau, nhưng ba không có thời gian để khóc. Trước mặt mọi người, ba tất bật lo tang sự với gương mặt bình thản đến mức người ta tưởng ba quá cứng rắn.
Nhưng nỗi đau không mất đi, nó chỉ bị dồn nén lại đằng sau dáng vẻ điềm tĩnh ấy. Đêm về, khi không gian tĩnh lặng và không còn ai để phải tỏ ra mạnh mẽ, ba ngồi lặng lẽ trong bóng tối. Tôi nghe tiếng ông khóc nức nở, tiếng khóc vỡ òa của một đứa trẻ mồ côi. Khoảnh khắc ấy, không còn là người chủ gia đình gánh vác mọi chuyện, ba đơn thuần chỉ là một người con, người cháu đang nghẹn ngào gọi thầm những thương yêu vừa đột ngột bước ra khỏi cuộc đời mình.
Tình cảm của ba không nằm trên đầu môi chót lưỡi. Nó giấu trong những giọt nước mắt thầm lặng, trong những việc thiện không muốn ai biết tới, và trong cách ông sống trọn nghĩa trọn tình với mọi người.
Có một chuyện nhỏ, chắc bình sinh ba không để ý, nhưng tôi thì nhớ mãi. Hôm ấy là ngày rằm, ba đang thắp hương cúng trước sân thì có người hớt hải chạy băng qua vườn nhà. Một lúc sau, một nhóm người mặc quân phục, mang súng ống đuổi tới. Thấy ba lom khom bên bàn cúng, họ hỏi: “Bác có thấy ai chạy qua đây không?”. Ba ngẩng đầu, điềm tĩnh đáp: “Tôi lo khấn vái nên không thấy gì hết”. Họ nhìn quanh một lúc rồi bỏ đi.
Ba không giải thích, không kể lại với ai, lặng lẽ dọn bàn cúng rồi vào nhà ngủ. Nhưng sáng hôm sau, tôi thấy ba dậy rất sớm. Cầm cây rựa ra vườn trong làn sương sớm, ba âm thầm phát bớt những đám gai, xóa đi vết chân và khoảng rào bị xô lệch mà người lạ đêm qua đã vượt qua trốn thoát.
Suốt cuộc đời, ba tôi vẫn vậy: ít nói, không kể công, chưa từng nhận mình là người tốt. Nhưng qua những việc làm lặng lẽ, tôi hiểu đằng sau vẻ nghiêm nghị ấy là một trái tim bao dung. Có những điều thiện không cần lời giải thích hay người chứng kiến, nó chỉ âm thầm chứng minh qua cách con người đối xử với con người trong giờ phút ngặt nghèo nhất.
Cho đến những năm cuối đời, ba tôi vẫn giữ thói quen mỗi dịp giáp Tết là đem bộ lư đồng ra đánh bóng. Ba ngâm lư trong nước lá bứa cho lớp gỉ bong ra rồi tỉ mỉ chùi từng chi tiết. Nhìn ba cặm cụi chùi rửa tôi có cảm giác bộ lư đồng nhà tôi thêm tinh tươm và ấm áp hương vị của ngày Tết đang đến gần.
Nhưng rồi có một năm, tôi thấy ba không mang lư ra trước nhà nữa. Ba lặng lẽ ngồi ở phía sau. Thấy lạ, tôi hỏi. Ba im lặng một lúc rồi mới đáp: “Ngồi ngoài đó thấy nhiều cảnh đời oái ăm, ba không chịu nổi!”. Rồi ba kể tôi nghe về những buổi chợ cuối năm. Người có điều kiện thì đã mua sắm từ sớm, khi giá cả còn rẻ. Riêng những người túng thiếu, phải đợi xoay xở được ít tiền mới dám ra chợ. “Gạo tháng giêng, tiền tháng chạp” mà con! Đợi lúc ra chợ được rồi thì giá cả đã tăng vọt. Cuộc đời quá nhẫn tâm với người nghèo. Ba tôi nói điều ấy bằng giọng trầm buồn và tôi hiểu ông đã mang nỗi trăn trở ấy vào lòng từ rất lâu rồi.
Những ký ức về ba không gắn liền với các sự kiện lớn lao. Đó chỉ là giọt nước mắt âm thầm trong đêm, là sự cảm thông cho những phận đời cơ cực, là bàn tay sẵn sàng dang ra trước mảnh đời khốn khó... Những điều bình dị ấy đã làm nên nhân cách của ba tôi.
Những ngày cuối cùng của ba bắt đầu từ lần nhập viện gần Tết Trung thu năm 1988 - thời kỳ đất nước vừa qua bao cấp, bệnh viện thiếu thốn đủ bề. Không có máy siêu âm, muốn chẩn đoán hình ảnh, bệnh nhân phải vào phòng tối chụp X-quang, bác sĩ hướng dẫn qua hệ thống loa từ bên ngoài.
Tôi dìu ba vào phòng chụp. Đứng trong bóng tối, tôi hỗ trợ ba làm theo lệnh bác sĩ. Tôi nghĩ hướng dẫn xong thì loa sẽ tắt, nhưng không. Đứng bên ba, tôi nghe rõ mồn một cuộc trao đổi qua loa giữa bác sĩ chuyên khoa và kỹ thuật viên: “Thận hư...”. “Tim hư...”. “Phổi hư...”. Từng từ rơi xuống chậm rãi nhưng nặng hơn đá chì. Mắt tôi tối sầm lại, cảm giác như rơi xuống vực sâu không đáy. Tôi thương ba vô hạn. Tôi nín thở quan sát từng động tĩnh của ba... Nhưng ba không có biểu hiện gì bất thường.
Sau buổi chụp, ông chỉ thoáng hiện nét buồn trên gương mặt. Một nỗi buồn rất nhẹ rất sâu. Rồi ông bình thản nói: “Thôi, đưa ba về nhà”.
Chiều hôm đó tôi ngồi suốt bên ba. Người thân, bà con, bạn bè lần lượt đến thăm. Ba tôi vẫn trò chuyện, vẫn quan tâm đến mọi người như thường lệ.
Với tôi, ông dặn: “Chăm cho người bệnh thì con phải ngồi ở giữa để lỡ người bệnh hạ thổ còn đỡ kịp!”.
Với anh Hai tôi, ông dặn: “Xuống chú Huy nghe con. Ba có để dành mấy tấm gỗ gòn, nhờ chú lên giúp cho ba!”.
Với chị dâu tôi, ông dặn: “Nhà mình chắc sẽ có nhiều người tới giúp, đông lắm. Con đi chợ lo cơm nước cho đầy đủ, kẻo phụ lòng người ta”.
Ba dặn dò từng việc tỉnh táo và chu đáo như thể còn rất nhiều thời gian phía trước. Chúng tôi đều vâng lời, nhưng không ai ngờ cuộc chia tay lại đến nhanh như vậy.
Đêm hôm ấy, ba tôi thanh thản ra đi. Không hoảng loạn. Không than trách. Không sợ hãi.
Nhiều năm đã trôi qua, mỗi khi nhớ lại đêm ấy, điều đọng lại trong tôi không còn là nỗi đau thắt lòng nữa, mà là sự ngưỡng mộ trước thái độ an nhiên của ba trước giờ khắc cận tử nghiệp. Cả cuộc đời ba đã an nhiên sống bằng lòng nhân hậu, và khi rời bỏ nhân gian, ông cũng an nhiên ra đi bằng sự thanh thản.
Tôi không dám mong mình được như ba. Tôi chỉ mong khi ngày ấy đến với mình, tôi có được một phần nhỏ sự bình thản của ba: không sợ hãi, đủ can đảm chấp nhận và đủ an nhiên để bước qua cánh cửa cuối cùng của đời người. Với tôi, làm được như vậy đã là một sự nhiệm màu!
Thưa ba, con vẫn nhớ.
Và con vẫn theo ba cho đến tận ngày nay!
N.N.C