Để di sản văn hóa xứ Quảng thật sự là nguồn lực nội sinh cho sự phát triển bền vững

Mắt phố Hội An. Ảnh PHAN NGỌC HỢI
Di sản văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo qua tiến trình lịch sử, mang tính kế thừa qua nhiều thế hệ và được lưu giữ đến ngày nay. Đó là hồn cốt của một vùng đất, giúp ta thấu hiểu sâu sắc quá trình phát triển, chiều sâu văn hóa cùng tài năng, tâm hồn và trí tuệ con người.
Bức tranh di sản xứ Quảng: Đa dạng và độc đáo
Sau khi hợp nhất các đơn vị hành chính, thành phố Đà Nẵng hiện nay sở hữu một không gian văn hóa rộng mở với hệ thống di sản vô cùng đồ sộ: 6 di tích quốc gia đặc biệt, gồm Đô thị cổ Hội An, Khu đền tháp Mỹ Sơn, Phật viện Đồng Dương, Danh thắng Ngũ
Hành Sơn, Thành Điện Hải, Đường Hồ Chí Minh; trong đó, Mỹ Sơn và Hội An được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa thế giới. Bên cạnh đó, thành phố còn gìn giữ 84 di tích vật thể quốc gia, 28 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, 19 bảo vật quốc gia, 475 di tích cấp thành phố.
So với nhiều địa phương khác thì số lượng di sản văn hoá xứ Quảng không nhiều nhưng ở đây lại đa dạng về loại hình, có một số di sản hiếm hoi, đặc sắc. Đó là đô thị cổ Hội An, nơi bảo tồn gần như nguyên vẹn kiểu cảng thị truyền thống Đông Nam Á thế kỉ XV-XIX và sự giao thoa văn hóa Đông - Tây rõ rệt. Đó là khu đền tháp Mỹ Sơn được xây dựng từ thế kỷ thứ IV, nơi có “thung lũng thần linh”, trung tâm Ấn Độ giáo lớn ở Đông Nam Á, thể hiện sự giao thoa văn hóa Champa- Ấn Độ trong cả chục thế kỉ. Đó là Phật viện Đồng Dương, trung tâm Phật giáo đại thừa quan trọng bậc nhất của khu vực Đông Nam Á thời trung đại.
Nói về văn hóa Chăm thì không thể không nhắc đến Bảo tàng Điêu khắc Chăm bên bờ sông Hàn. Có thể nói đây là bảo tàng văn hóa Chăm duy nhất ở nước ta và trên thế giới, nơi bảo quản, trưng bày, giới thiệu cả ngàn tác phẩm điêu khắc tiêu biểu, độc đáo của một nền văn hóa văn minh từng rực rỡ một thời. Bảo tàng độc đáo này hiện có đến 12 bảo vật quốc gia, đó là: Đài thờ Trà Kiệu, Đài thờ Mỹ Sơn E1, Tượng Bồ tát Tara, Đài thờ Đồng Dương, Tượng thần Ganesha, Tượng Gajasimha, Phù điêu Apsara, Tượng thần Shiva, Phù điêu Đản sinh Brahma, Tượng rồng tháp Mẫm, Phù điêu Shiva múa Phong Lệ, Phù điêu Uma Chánh Lộ. Đây là những hiện vật gốc độc bản, có giá trị đặc biệt quý hiếm về lịch sử, văn hóa không chỉ của xứ Quảng mà còn của cả nước.
Còn danh thắng Ngũ Hành Sơn với cảnh quan, chùa chiền, hang động huyền bí qua góc nhìn và cảm xúc của nữ thi sĩ Bảng Nhãn thì: Cảnh trí nào hơn cảnh trí này/ Bồng lai tiên cảnh hẳn là đây/ Núi chen sắc đá pha màu gấm/ Chùa nức hơi hương khói lộn mây… Gắn liền với danh thắng quốc gia đặc biệt này là hai di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước, Lễ hội Quán Thế Âm, cùng với đó di sản tư liệu Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Ma nhai Ngũ Hành Sơn.
Đóng góp vào bức tranh lịch sử hào hùng của xứ Quảng còn có Thành Điện Hải - biểu tượng của lòng yêu nước và tinh thần xả thân vì nghĩa lớn của quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống liên quân Pháp - Tây Ban Nha năm 1858. Cùng với đó là Hải Vân quan (xây dựng năm 1826), một điểm nhấn đặc biệt khi hai địa phương láng giềng là Đà Nẵng và Thừa Thiên Huế cùng chung tay quản lý một di tích cấp quốc gia.
Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia ở xứ Quảng có đủ các loại hình: nghề thủ công truyền thống (nước mắm Nam Ô, gốm Thanh Hà, mộc Kim Bồng, khai thác yến sào Thanh Châu, bánh tráng Túy Loan, dệt thổ cẩm của người Cơ Tu…); lễ hội truyền thống (Bà Thu Bồn, Bà Phường Chào, rước cộ Bà chợ Được…); nghệ thuật trình diễn dân gian (Bài Chòi, Tuồng xứ Quảng, Hát Bả trạo, múa Tâng tung da dá người Cơ Tu); tập quán xã hội và tín ngưỡng (nghi lễ dựng cây nêu và bộ gu của người Cor, tết Trung thu, tết Nguyên tiêu Hội An); tri thức dân gian (trồng rau Trà Quế); biểu đạt và truyền thống truyền khẩu (Nói lý, hát lý người Cơ Tu).
Thực tiễn bảo tồn và phát huy giá trị di sản
Thời gian qua, hệ thống di sản vật thể và phi vật thể tại xứ Quảng đã được các cấp chính quyền cùng ngành văn hóa quản lý, bảo tồn và phát huy hiệu quả. Di sản không chỉ góp phần giáo dục truyền thống, giữ gìn bản sắc, đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân mà còn tạo động lực lớn cho ngành du lịch và công nghiệp văn hóa. Minh chứng rõ nét là lượng khách tham quan lớn mỗi năm: Hội An đón gần 5 triệu lượt, Mỹ Sơn đón gần 450.000 lượt, Ngũ Hành Sơn đón gần 2 triệu lượt (phần lớn là khách quốc tế). Nguồn thu từ du lịch đã gia tăng nguồn ngân sách địa phương, tạo nguồn lực đầu tư quay vòng để tiếp tục bảo tồn di sản.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, thực tiễn cũng đặt ra nhiều thách thức, trong khi yêu cầu phát triển mới càng lúc càng trở nên quyết liệt hơn. Để hệ thống di sản văn hóa xứ Quảng thực sự cất cánh và đóng vai trò là nguồn lực nội sinh, cần tập trung thực hiện 3 giải pháp trọng tâm:
Một là, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa đô thị hóa và bảo tồn di sản. Đô thị hóa là quá trình phát triển tất yếu, khách quan, nhất là tại các thành phố lớn như Đà Nẵng. Quá trình phát triển này, nếu tiến hành ào ạt, thiếu thận trọng thì dễ làm “tổn thương” các di sản văn hóa. Thời gian qua, nếu không có sự tích cực tham mưu của cơ quan chức năng cùng các nhà văn hóa tâm huyết và sự vào cuộc kịp thời của chính quyền thì cụm di tích lịch sử Nam Ô (đình Nam Ô, lăng Ông, dinh Âm Linh, miếu Bà Liễu Hạnh, miếu Bà Bô Bô, nghĩa trủng Nam Ô, giếng Lăng) sẽ không được bảo tồn nguyên vẹn khi nhà đầu tư đề nghị chuyển dời di tích để lấy đất thực hiện dự án du lịch nghỉ dưỡng. Gần đây, cũng nhờ sự tham mưu và vào cuộc đó mà hai di tích liên quan đến cuộc kháng chiến chống liên quân Pháp - Tây Ban Nha giữa thế kỉ XIX là đồn Chơn Sảng và trạm Nam Chơn được giữ lại trước khi siêu dự án Khu phức hợp du lịch và đô thị nghỉ dưỡng Làng Vân dưới chân đèo Hải Vân được triển khai. Để bảo tồn được di tích văn hóa, lịch sử trước cơn lốc đô thị hóa, cần phổ biến sâu rộng Luật Di sản văn hóa, đồng thời ngành văn hóa cần khẩn trương kiểm kê, đề nghị xếp hạng các di tích quan trọng để được luật pháp bảo vệ.
Hai là, đổi mới tư duy bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa. Thực tế đang tồn tại hai quan điểm bảo tồn di sản văn hóa trái ngược nhau. Một mặt, yêu cầu bảo tồn di sản như vật trưng bày trong tủ kính, giữ nguyên trạng, không bị mất đi, không bị xâm phạm; mặt khác thì chỉ đơn thuần thương mại hóa di sản văn hóa. Cả hai cách nghĩ, cách làm nêu trên đều rất cực đoan, không phù hợp với quan điểm hiện đại trong việc bảo tồn di sản văn hóa.
Theo PGS. TS Đặng Văn Bài, Phó Chủ tịch Hội đồng di sản văn hóa quốc gia, “Bản chất của đổi mới tư duy trong bảo tồn văn hóa là thay đổi thái độ đối xử với di tích như một “vật thể chết” sang duy trì, nuôi dưỡng di tích như một “cơ thể sống”. Di sản chỉ thực sự được bảo tồn bền vững khi nó vẫn còn giá trị sử dụng và thực sự nhận được sự trân trọng từ thế hệ trẻ. Chỉ với phương thức đó thì di sản văn hóa mới có thể đóng vai trò “nhịp cầu” kết nối quá khứ với hiện tại và tương lai” (Kỷ yếu Hội thảo khoa học về bảo tồn và phát huy giá trị di tích Dinh trấn Thanh Chiêm, năm 2026). Thực tế thì thành phố Hội An trước đây đã năng động, sáng tạo bảo tồn đô thị cổ như một cơ thể sống, nhờ đó mà vừa giữ được di sản, vừa thu hút đông đảo du khách bốn phương, được UNESCO và các tổ chức có uy tín trên thế giới tặng nhiều danh hiệu như: điểm đến hàng đầu châu Á và thế giới, một trong những thành phố lãng mạn nhất thế giới… (Do thực hiện chủ trương chính quyền địa phương hai cấp nên việc tổ chức quản lý đô thị cổ này hiện đang bị phân tán. Hy vọng các cấp lãnh đạo sớm có giải pháp khắc phục tình trạng này).
Ba là, khẩn trương triển khai chương trình số hóa di sản văn hóa. Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đề ra mục tiêu hoàn thành việc số hóa 100% các di tích văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt ngay trong năm 2026. Chính phủ cũng đã có quyết định triển khai chương trình số hóa di sản giai đoạn 2021-2030, mục tiêu 100% di sản được số hóa và ứng dụng trên nền tảng số. Ở Đà Nẵng hiện nay, một số di tích văn hóa, lịch sử quan trọng như Phật viện Đồng Dương, Dinh trấn Thanh Chiêm, tháp Chăm Phong Lệ… chỉ là phế tích, không còn hình dạng kiến trúc trên mặt đất mà chỉ có một ít nền móng bên dưới, do vậy công nghệ số cho phép “phục dựng di tích” dưới dạng thực tế ảo mà không nhất thiết xây dựng mới đè lên nền móng xưa. Thay vì phục hồi bằng gạch, đá, gỗ, xi măng, có thể dùng thực tế ảo từ công nghệ số giúp cho du khách hình dung được hình dáng, qui mô, vẻ đẹp của di sản trong quá khứ.
Số hóa còn hình thành cơ sở dữ liệu về di sản văn hóa phong phú, tăng khả năng tiếp cận rộng rãi và trải nghiệm đối với đông đảo công chúng trên các nền tảng tương tác và ứng dụng số, phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau bên cạnh mục đích cốt lõi là bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa như tìm hiểu, học tập, nghiên cứu.
Thành phố Đà Nẵng nhiều năm liên tục dẫn đầu cả nước trên bảng xếp hạng chỉ số sẵn sàng ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, đang triển khai mạnh mẽ chủ trương xây dựng đô thị thông minh trên nền công nghệ và dữ liệu số nên có nhiều thuận lợi trong việc triển khai chương trình số hóa di sản này. Rất cần một Đề án số hóa di sản văn hóa trên địa bàn thành phố với mục tiêu, lộ trình cụ thể, phù hợp với Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị và quyết định triển khai của Chính phủ.
Qua tiến trình lịch sử lâu dài, bao lớp tiền nhân đã trao truyền cho xứ Quảng một hệ thống di sản văn hóa phong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc. Gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản không chỉ để bày tỏ đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, bồi đắp tình yêu quê hương, mà còn là cách thức nhân lên sức mạnh nội sinh, phục vụ sự phát triển bền vững của thành phố - đó là tình cảm, đạo lý và là trách nhiệm của mỗi chúng ta hôm nay.
H.H
Huỳnh Hùng:Nghệ sĩ Nhân dân, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TP Đà Nẵng, nguyên Giám đốc Đài Phát thanh Truyền hình Đà Nẵng.