Chí sĩ Nguyễn Xuân Ôn và bài thơ về Hải Vân quan

04.11.2026
Phạm Tuấn Vũ

Chí sĩ Nguyễn Xuân Ôn và bài thơ về Hải Vân quan

Chí sĩ Nguyễn Xuân Ôn.

Nói đến phong trào Cần Vương cũng như văn học yêu nước nửa sau thế kỷ XIX, không thể không nhắc đến Tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn (1825 - 1889). Không chỉ là thủ lĩnh xuất sắc của phong trào Văn Thân tại Nghệ An, ông còn là tác giả lớn, có vị trí quan trọng trong dòng thơ văn kháng Pháp thời kỳ đầu.

Nguyễn Xuân Ôn hiệu là Ngọc Đường, quê tại làng Quần Phương, xã Lương Điền, tổng Thái Xá, huyện Đông Thành, nay thuộc xã Quảng Châu, tỉnh Nghệ An. Ông xuất thân gia đình nghèo khó, từ nhỏ đã có tư chất thông minh, năm 18 tuổi đỗ Tú tài khoa thi Hương năm Giáp Thìn (1844). Tuy nhiên, mãi đến năm 42 tuổi Nguyễn Xuân Ôn mới thi đậu Cử nhân. Ba năm sau, ông đậu Tiến sĩ. Nguyễn Xuân Ôn bước vào hoạn lộ khi đã luống tuổi nhưng vẫn luôn hăm hở lý tưởng của một nhà nho yêu nước, hết lòng “trí quân trạch dân”. Tuy nhiên, ông bước ra quan trường khi đất nước đang dần rơi vào tay thực dân phương Tây, nội bộ triều đình lục đục. Là nhà nho thông minh, chính trực, có tài năng và tâm huyết, một lòng vì nước vì dân nhưng Nguyễn Xuân Ôn không được trọng dụng. Ông phải tập sự ở trường Hậu bộ và làm Hàn lâm Biên tu đến 3 năm tại kinh thành Huế trước khi được giao cho một chức quan nhỏ là Tri phủ Quảng Ninh (thuộc tỉnh Quảng Bình), rồi bổ làm Đốc học Bình Định trước khi được triệu về kinh giữ chức Ngự sử.

Trong tình thế đất nước rối ren, Nguyễn Xuân Ôn nhiều lần dâng sớ, tâu điều trần về các việc canh tân đất nước, tổ chức kháng Pháp nhưng đều không được triều đình chấp thuận. Năm 1883, ông bị cách chức, cho về quê. Tại quê nhà Nghệ An, Nguyễn Xuân Ôn dốc sức gom góp tài vật, chuẩn bị kháng Pháp. Tháng 7.1885, kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi xuất bôn rồi xuống dụ Cần Vương. Ông được Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết thay mặt vua cử làm An Tĩnh Hiệp thống Quân vụ đại thần, trở thành người thống lĩnh nghĩa quân hai tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An giúp vua, cứu nước. Mặc dù tuổi đã cao nhưng Nguyễn Xuân Ôn luôn đi đầu trong các trận đánh giặc, là một lãnh tụ chống Pháp kiên cường. Năm 1887, ông bị thực dân Pháp bắt giải về Huế. Mặc dù kẻ thù luôn tìm mọi cách để đe dọa, mua chuộc nhưng Nguyễn Xuân Ôn vẫn luôn giữ tròn khí tiết. Ông là vị thủ lĩnh phong trào Cần Vương tại Nghệ Tĩnh nổi tiếng với câu nói “Chém thì chém, ta quyết không chịu nhục” khi trả lời Công sứ Pháp.

Không chỉ là thủ lĩnh phong trào Văn Thân Nghệ Tĩnh, chí sĩ Nguyễn Xuân Ôn còn là tác giả lớn của văn học yêu nước Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX. Sáng tác của ông gồm Ngọc Đường thi tập với 311 bài thơ chữ Hán, Ngọc Đường văn tập với 22 tác phẩm văn xuôi chữ Hán cùng một số câu đối và 5 bài thơ Nôm truyền tụng. Sáng tác của ông là thành tựu tiêu biểu của văn học yêu nước chống Pháp thời kỳ đầu, đúng như nhận định: “Toàn bộ thơ văn Nguyễn Xuân Ôn là tiếng nói chân thành, là tấm lòng thiết tha của một con người suốt đời gắn bó với vận mệnh của Tổ quốc, với độc lập của dân tộc, từ buổi tráng niên đầy ước mơ cao đẹp đến lúc tuổi già sức yếu vẫn không ngừng phấn đấu, cả đến lúc sa cơ lọt vào nanh vuốt của bè lũ cướp nước và bán nước vẫn không thôi tin tưởng vào một ngày nào đó kẻ thù bị tiêu diệt, đất nước lại sáng tươi”1.

Trong gia tài thơ Nguyễn Xuân Ôn, Đồ quá Hải Vân quan ngẫu thành (Ngẫu hứng viết thành trên đường qua ải Hải Vân) là một tác phẩm khá đặc biệt. Đây là bài thơ ngũ ngôn trường thiên dài 32 câu, được làm khi tác giả qua đèo Hải Vân trên đường vào Bình Định nhậm chức Đốc học. Bài thơ thể hiện những cảm xúc mãnh liệt của thi nhân khi đi qua “thiên hạ đệ nhất hùng quan” trên con đường làm quan xa xôi, rã rời trong tình cảnh nước nhà loạn lạc.

Mở đầu bài thơ, tác giả giới thiệu về lần vượt Hải Vân trên đường vào Nam làm quan nơi đất khách: Khách hoạn tam thiên lí/ Hùng châu đệ nhất quan (Làm quan nơi đất khách xa ba ngàn dặm/ Đây là ải đệ nhất của một châu hùng tráng). Ngay sau đó, tác giả dành 14 dòng tiếp theo để mô tả cảnh quan hùng vĩ của đèo Hải Vân mà mình lần đầu được tận mắt chứng kiến. Thi nhân gọi nơi đây là “thắng tích”, “kỳ quan” của đất nước, của thiên nhiên tạo hóa một cách đầy ngưỡng mộ: Giang sơn tiêu thắng tích/ Vân thủy hiến kì quan (Non sông nổi lên thắng tích/ Mây nước hiện ra kì quan). Những vẻ đẹp của núi non trời biển Hải Vân được tác giả miêu tả một cách sinh động, ấn tượng: Thập cấp cao cao hạ/ Trùng phong khứ khứ hoàn/ Bách tuyền thiên thượng lạc/ Nhất kính thạch trung toàn/ Đạp cước thanh vân lí/ Thê thân bích hán gian/ Nhật đê thiên khí úc/ Hải cận thủy quang hàn/ Phong tế đào nhưng cấp/ Dương hi lạo bất càn/ Nhất đăng thiên hạ tiểu/ Tứ cố vực trung khoan (Đèo từng bậc lên cao rồi xuống thấp/ Núi điệp trùng quanh đi rồi vòng lại/ Trăm con suối như từ trời rơi xuống/ Một lối đi trong đá hiện ra/ Chân giẫm lên mây xanh/ Thân nương trong trời biếc/ Mặt trời thấp khí trời ấm/ Biển ở gần ánh nước lạnh/ Gió nhẹ sóng vẫn mạnh/ Trời tạnh mà vũng nước không khô/ Một lần lên thấy thiên hạ nhỏ/ Nhìn bốn phương thấy đất nước rộng).

Thông thường, khi đứng trước một thắng cảnh như đệ nhất hùng quan Hải Vân, cảm xúc chung của người đến là thích thú, trầm trồ hay yêu mến, hào sảng… Tuy nhiên, là nhà nho yêu nước giữa thời buổi nước nhà rơi vào tay giặc, triều đình nhu nhược, Nguyễn Xuân Ôn mang nặng trăn trở, ưu tư. Nhà thơ tự bạch: Ta dư đa bạt thiệp/ Quá thử độc bàn hoàn (Nghĩ mình trèo đèo lội suối đã nhiều/ Qua đây vẫn riêng lòng băn khoăn). Trước một Hải Vân không chỉ là thắng cảnh mà còn là di tích ghi dấu bao oai hùng của lịch sử dân tộc, đồng thời là hiểm địa có vị trí chiến lược quan trọng đối với an ninh quốc gia, tác giả chiêm nghiệm: Khai thác tư tiền liệt/ Đề phòng lự hậu gian (Công mở cõi nhớ ơn các lớp người đi trước/ Việc đề phòng phải lo đến những khó khăn sau này). Trong dòng suy nghiệm ấy, Nguyễn Xuân Ôn cay đắng nhận ra tại nơi đây kẻ thù nổ phát súng đầu tiên mở màn cho cuộc chiến xâm lược nước ta cũng như đau đớn, căm giận trước sự bất lực của quan quân triều đình: Như hà hữu thắng trảm/ Nãi nhĩ vô lương hàn/ Dương pháo bôn sơn lũy/ Ô thuyền hám hải than/ Vũ phu không tọa giáp/ Tráng sĩ đồ xung quan (Vì sao có hào sâu/ Mà không có tướng giỏi/ Pháo Tây xông lên đồn trên núi/ Tàu Ô dòm ngó ở ven biển/ Kẻ võ phu mặc áo giáp ngồi không/ Người tráng sĩ giận lệch mũ2).

Xuyên suốt trong thơ Nguyễn Xuân Ôn là nỗi lòng buồn đau, căm hờn, u uất trước tình cảnh đất nước bị kẻ thù xâm chiếm. Dù vậy, thơ ông vẫn luôn sáng lên niềm tin vào “tấm lòng cứu quốc của đồng bào, đồng chí”1 và về một ngày đất nước sạch bóng giặc, xã tắc lại vững bền. Bốn câu cuối của bài thơ cũng thể hiện rõ điều này: Hạnh thiết nguyên nhung trướng/ Ưng đăng thượng tướng đàn/ Vị quân tác bảo chướng/ Điện nhược Thái Sơn an (May được đặt trướng thống soái/ Nên lên đàn thượng tướng/ Vì ngươi ra sức gìn giữ/ Cho vững vàng như núi Thái Sơn).

Có thể nói, Đồ quá Hải Vân quan ngẫu thành là một trong những bài thơ cảm động và tiêu biểu cho phong cách thơ Nguyễn Xuân Ôn. Bằng những vần thơ giàu hình ảnh và cảm xúc, tác phẩm thể hiện thành công nỗi lòng của một nhà nho yêu nước khi đi qua thắng địa Hải Vân quan. Với tác phẩm này, Nguyễn Xuân Ôn không chỉ đóng góp vào dòng thơ chống Pháp chặng đường đầu mà còn góp vào dòng thơ viết về Hải Vân một tác phẩm giá trị.

P.T.V

1 Nhiều tác giả (1977), Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn, Nxb Văn học, tr.24.

2. Nguyên văn là “xung quan”, bắt nguồn từ thành ngữ “nộ phát xung quan”, nghĩa là “giận quá, tóc dựng lên làm lệch cả mũ”.

Lời nói trước lúc mất của Nguyễn Xuân Ôn với Nguyễn Hành