Người Đà Nẵng trong nhịp sống mới

30.10.2026
Vũ Đình Anh

Người Đà Nẵng trong nhịp sống mới

Xứ Quảng quê mình. Tranh lụa ĐOÀN MINH THUẦN

Văn hóa Đà Nẵng là một bộ phận không tách rời của văn hóa xứ Quảng. Như cố học giả Nguyễn Văn Xuân từng nhận định: “Đà Nẵng với Quảng Nam từ 1888 đến nay, qua bao vật đổi sao dời cũng chỉ có thể chia cắt hành chính chứ khó chia cắt truyền thống đặc tính, ngôn ngữ. Nhiều thế kỷ sau có lẽ cũng vẫn như thế”1. Trong lễ công bố Nghị quyết của Quốc hội về sáp nhập tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng ngày 30/6/2025, điều được nhắc đến nhiều nhất chính là mong muốn và niềm tin phát huy “truyền thống đoàn kết thống nhất của quê hương xứ Quảng”2. Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay, rất cần nhìn nhận một cách đầy đủ về chân dung người Đà Nẵng mới: từ truyền thống đến hiện tại và tương lai.

1. Truyền thống xứ Quảng với sự phát triển Quảng Nam - Đà Nẵng

Sau 28 năm chia tách, hai nhánh của một dòng văn hóa lại hòa cùng nhịp chảy. Tuy cùng một gốc, song bối cảnh, điều kiện kinh tế - xã hội đã xác lập cho Đà Nẵng những thương hiệu của một đô thị trẻ, năng động và đáng sống, nay hòa hợp với văn hóa quê hương xứ Quảng giàu truyền thống, nhiều di sản, sâu nặng nghĩa tình. Những điểm khác ấy chỉ là cách biểu hiện trong bối cảnh không giống nhau, còn về bản chất đều là sự kế thừa truyền thống của vùng đất. Trước hết là những nét tính cách tiêu biểu của con người xứ Quảng: cởi mở, cương trực, nghĩa tình, hiếu học,…

Cởi mở - tính cách của một vùng đất cửa ngõ

Sự cởi mở của người Quảng có gốc rễ từ hành trình mở cõi vào phương Nam. Trong hành trình gian nan ấy, họ phải tiếp xúc với không gian mới, con người mới, phong tục, tập quán mới,… nên không thể khép kín như một làng quê truyền thống lâu đời. Tiêu biểu nhất là thương cảng Hội An, nơi từ 300 đến 400 năm trước thuyền buôn Nhật, Hoa, phương Tây đã cập bến. Giáo sư Ngô Đức Thịnh nhận xét xứ Quảng xưa là “nơi giao lưu chứ không phải là ứ đọng, tù túng”, nên con người “cởi mở, dễ tiếp thu, học hỏi, chứ không bảo thủ”3.

Từ đầu thế kỷ XVII, giáo sĩ Cristoforo Borri đến Đàng Trong và ngạc nhiên vì được đón tiếp nồng hậu: vừa bước vào nhà dân, ông đã được coi “như bạn bè quen biết từ lâu”4. Bốn thế kỷ sau, cái nếp ấy vẫn còn trong cách một bà bán hàng ở chợ Cồn tận tình chỉ đường cho khách lạ, trong ly nước trà đá mời người thợ. Thành phố cũng đón người từ nơi khác đến bằng tinh thần ấy: sinh viên từ Quảng Trị, Quảng Ngãi, Tây Nguyên tới học, kỹ sư từ Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đến làm việc, người nước ngoài chọn ở lại lâu dài bên bờ biển Sơn Trà. Nhiều người kể rằng chỉ sau vài tháng, họ đã thấy mình “thuộc về” nơi này. Một thành phố khiến người lạ sớm thấy mình là người nhà, đó là thành công không thể đo bằng con số.

Cương trực - “cãi” để “canh tân”

Nói đến người Quảng, nhiều người nhắc câu “Quảng Nam hay cãi” như là “một thương hiệu”, đi kèm vô số giai thoại. Theo học giả Nguyễn Văn Xuân, đặc tính ấy là kết quả của nhiều yếu tố, mà cốt lõi là bối cảnh có “nhiều mâu thuẫn”: những va chạm, tranh chấp trong quá trình mở cõi về phía Nam của người Việt, những khác biệt văn hóa và nhu cầu bảo vệ giá trị văn hóa trong quá trình giao lưu và phát triển. Tính cách này “tất nhiên nó có những nhược điểm, những hạn chế, song không ai phủ nhận giá trị lớn lao có tính quyết định của nó trong lịch sử phát triển đất nước”5.

Có thể nói, cái “cãi” của người Quảng vốn không phải sự hiếu thắng thuần túy. Họ “cãi” vì không chịu cúi đầu trước điều phi lý, “cãi” để đòi cho ra lẽ phải trái, và nhiều khi “cãi” để mở đường cho cái mới. Một cộng đồng quen tranh biện thì ít bị ràng buộc bởi nếp nghĩ cũ, ít ngại va chạm với quyền uy, nên dễ nhìn ra những điều cần thay đổi. Vì vậy, tinh thần ấy thường đi cùng khát vọng canh tân: các sĩ phu Duy Tân đất Quảng như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp không chỉ phê phán cái lạc hậu mà còn dám đề xướng, dám làm; cuộc vận động chống thuế năm 1908 khởi phát từ Quảng Nam cho thấy sự cương trực ấy đã thành sức mạnh của đông đảo quần chúng. Điều đáng quý nhất, suy cho cùng, không phải là “cãi” nhiều, mà là “cãi” có lý lẽ, và sau khi “cãi” vẫn biết đồng lòng vì vận nước.

Nghĩa tình - trọng cộng đồng

Ngay từ buổi đầu mở cõi, những lưu dân xứ Quảng “lạ nước lạ cái” đã phải nương tựa vào nhau để khai hoang, lập làng, chống chọi với thiên nhiên và giặc giã. Từ đó hình thành một thứ tình làng nghĩa xóm bền chặt, coi việc chung như việc nhà. Không phải ngẫu nhiên mà sử sách triều Nguyễn nhận định người Quảng Nam “vui làm việc nghĩa và sốt sắng việc công” (Quốc sử quán thời Tự Đức). Tinh thần ấy rực sáng nhất mỗi khi đất nước lâm nguy: năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần vương, Nghĩa hội Quảng Nam do Nguyễn Duy Hiệu lãnh đạo đã quy tụ sĩ phu và nhân dân khắp phủ huyện đứng lên chống Pháp. Hai chữ “nghĩa hội” đã nói lên tất cả: người Quảng hội với nhau vì nghĩa lớn. Sang đầu thế kỷ XX, câu thơ của Phan Châu Trinh “Gặp việc nghĩa, trăm thân không tiếc” như là tuyên ngôn sống của cả một vùng đất. Lối sống nghĩa tình và ý thức cộng đồng ấy đã giúp người Quảng vượt qua bao thăng trầm lịch sử, và trở thành một giá trị cốt lõi được trao truyền đến hôm nay.

Hiếu học - mạch nguồn của vùng đất “địa linh nhân kiệt”

Dưới triều Nguyễn, sĩ tử xứ Quảng đã sớm có tên trên bảng vàng khoa cử. Lê Thiện Trị đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Tuất 1838, được xem là vị Tiến sĩ khai khoa của cả vùng đất từ Quảng Nam đến Ninh Thuận. Rồi những danh xưng truyền tụng đến nay: “Ngũ tử đăng khoa”, “Tứ hổ”, “Tứ kiệt”, và nổi tiếng nhất là “Ngũ phụng tề phi”. Điều đáng chú ý là có nhiều nhà nho xứ Quảng đả phá lối học tầm chương trích cú, chủ trương học để làm người, học đi đôi với hành. Vì vậy, chữ nghĩa thánh hiền không giam họ trong lối mòn mà trở thành chiếc cầu đưa họ đến với cái mới: hiếu học chính là gốc rễ của tinh thần canh tân.

Truyền thống ấy thấm sâu vào đời sống thường nhật, trở thành cách nghĩ của cả một cộng đồng: cha mẹ dẫu nghèo vẫn cố lo cho con đến trường, dòng họ dựng nhà thờ, lập bia để vinh danh người đỗ đạt. Người Quảng Nam, Đà Nẵng thừa hưởng từ cha ông niềm tin rằng con đường phát triển quê hương trước hết bắt đầu từ việc học.

Nền tảng ấy tạo nên sự năng động của người Đà Nẵng hôm nay. Gần ba mươi năm qua, “năng động” gần như đã thành danh xưng của người Đà Nẵng: thành phố từng gây chú ý cả nước bằng những chương trình mang dấu ấn riêng và danh hiệu thành phố đáng sống nhất Việt Nam; tổ chức những sự kiện tầm quốc tế như lễ hội pháo hoa; đi tiên phong trong xây dựng chính quyền điện tử, sớm đặt mục tiêu thành phố thông minh,…

2. Người Đà Nẵng hôm nay và mai sau

Truyền thống là nền tảng, nhưng nền tảng chỉ có ý nghĩa khi con người biết phát huy giá trị phù hợp với bối cảnh mới. Người Đà Nẵng hôm nay đang sống giữa một nhịp đổi thay và phát triển nhanh chóng. Trong bối cảnh ấy, thành phố đã đặt cho mình một đích đến: xây dựng văn hóa, con người Đà Nẵng hiện đại, năng động, sáng tạo, giàu bản sắc, nhân văn, có chất lượng sống cao, hướng đến xây dựng đô thị kiểu mẫu của Việt Nam, “là thành phố biển đáng sống đạt đẳng cấp khu vực Châu Á”6. Vậy con người Đà Nẵng hôm nay và mai sau kế thừa “chất Quảng” như thế nào để hình thành mẫu người “kết hợp nhuần nhuyễn giữa giá trị truyền thống với giá trị hiện đại, dân tộc với quốc tế”7?

Sự cởi mở nhưng vẫn giữ bản sắc văn hóa trong hội nhập

Từ thuở thương cảng Hội An đón thuyền buôn bốn phương, người Quảng đã quen mở cửa đón người lạ và học điều mới. Trong bối cảnh Đà Nẵng sau hợp nhất, cái nếp ấy còn cần cả trong đối nội: thành phố hợp lưu từ miền biển, đồng bằng đến những xã miền núi, vùng sâu, mỗi nơi một nhịp sống, một cách nói, một nếp nghĩ. Cởi mở lúc này không chỉ là đón khách phương xa, học hỏi điều mới, mà còn là chào đón nhau giữa người phố thị với người thôn quê, bản làng, để không ai thấy mình lạc lõng trong không gian mới.

Sự cởi mở của người Đà Nẵng sâu rễ bền gốc, nên hội nhập mà không bị hòa tan. Chỗ dựa vững chắc ấy là bề dày di sản của Hội An, Mỹ Sơn, Ngũ Hành Sơn cùng bản sắc của các cộng đồng cư dân, giúp họ tự tin bước ra thế giới mà vẫn mang theo hồn cốt xứ Quảng. Như vậy, bản lĩnh hội nhập với thế giới hiện đại của người Đà Nẵng hôm nay là đủ rộng để đi xa và đủ sâu để không đánh mất mình.

Sự thẳng thắn trong đối thoại và kỷ cương

Tinh thần cương trực của người Quảng hôm nay cần được đặt vào một khuôn khổ mới: dân chủ gắn với trách nhiệm, tranh luận gắn với kỷ cương. Đà Nẵng sau hợp nhất vận hành chính quyền địa phương hai cấp, quy mô dân cư lớn, không gian rộng, lợi ích đa dạng, nên những ý kiến khác nhau là điều khó tránh; điều cần là người dân dám phản ánh nguyện vọng, chính quyền biết lắng nghe để tháo gỡ vướng mắc, và hai bên cùng tìm tiếng nói chung.

Vì vậy, cương trực hôm nay trước hết là thẳng thắn đúng chỗ, đúng lúc, bằng đúng kênh. Đó là dám góp ý thẳng thắn trong các cuộc họp, dám nêu ý kiến trong đối thoại giữa lãnh đạo với nhân dân,… Với người cán bộ, đó là “nói đi đôi với làm”, dám nhận trách nhiệm, dám nhận khuyết điểm,… Với người dân, đó là phản ánh có địa chỉ, có căn cứ, trên tinh thần xây dựng. Trong bối cảnh chuyển đổi số, yêu cầu xây dựng văn hóa ứng xử lành mạnh trong môi trường số và tuân thủ pháp luật càng cần được khẳng định, bởi mỗi phát ngôn đều có thể lan rộng chỉ sau vài phút. Có như vậy, thẳng thắn mới không biến thành xung đột, và “chất Quảng” sẽ tiếp tục là động lực của sự phát triển.

Lối sống nghĩa tình, nhân văn, gắn với nâng cao chất lượng sống

“Lá lành đùm lá rách” vốn là đạo lý của những lưu dân cùng nhau khai hoang, lập làng. Đạo lý ấy đã bước từ xóm nhỏ ra khuôn khổ cả một thành phố, với các chương trình “5 không”, “3 có”, “4 an” nổi tiếng một thời. Và nay tiếp tục được đặt thành yêu cầu nâng cao chất lượng chính sách an sinh để mọi người dân đều được hưởng thành quả phát triển. Điều đó được cụ thể trong Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu lần thứ I Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2025 - 2030, ở nhiệm vụ đột phá: “Xây dựng thành phố Đà Nẵng hiện đại, giàu bản sắc, con người nhân văn, có chất lượng sống cao, nhất là nâng cao đời sống Nhân dân khu vực miền núi”8.

Vì thế, Đà Nẵng đang có nhiều nỗ lực khắc phục sự chênh lệch trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các vùng, nhất là địa bàn miền núi, hải đảo. Nhiều nhiệm vụ cụ thể đã được đặt ra: bảo đảm 100% hộ dân vùng sâu, vùng xa được tiếp cận điện, nước hợp vệ sinh; xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp ở xã biên giới; luân chuyển bác sĩ giữa miền núi và đồng bằng9. Nghĩa tình, vì vậy, là tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội phát triển, “không ai bị bỏ lại phía sau”. Người Đà Nẵng nhân văn không chỉ là người tốt bụng, mà còn là người hiểu rằng thành phố chỉ thật sự đáng sống khi mọi khu vực của thành phố đều đáng sống.

Tinh thần hiếu học giúp con người năng động, sáng tạo hơn

Hôm nay, hiếu học của người Đà Nẵng không còn dừng ở việc con em chăm chỉ đến trường mà mở rộng thành tinh thần học tập suốt đời: học để theo kịp một thế giới đổi thay từng ngày, học để làm chủ công nghệ, và học cả cách làm việc, cách ứng xử trong môi trường mới. Người cán bộ học để quản trị theo hướng khoa học, hiện đại; người lao động học để nâng tay nghề, chuyển đổi nghề; người lớn tuổi cũng học dùng ứng dụng số, để không lạc nhịp với con cháu. Có thể nói, một cộng đồng còn muốn học là cộng đồng chưa bằng lòng với hiện tại, và đó là điều kiện đầu tiên của sự năng động.

Tuy vậy, từ ham học đến sáng tạo là một bước chuyển cần được nuôi dưỡng bằng môi trường và thể chế. Đà Nẵng xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “đột phá quan trọng hàng đầu, động lực chính để phát triển kinh tế - xã hội”. Thành phố từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực công nghệ thông tin, vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu,… Có như vậy, ham học mới chuyển hóa thành năng lực sáng tạo: người học không chỉ tiếp nhận tri thức mà còn được thử nghiệm, được làm ra cái mới.

Trong thời đại thông tin tràn ngập, hiếu học không phải người nhớ nhiều kiến thức, mà là người biết phân biệt đúng - sai, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm về điều mình làm, nhất là khi phải bước vào những lĩnh vực chưa có tiền lệ. Như vậy, hiếu học hôm nay vẫn là mạch nguồn xưa, nhưng đã được đặt vào một dòng chảy mới: học để sáng tạo, sáng tạo để phục vụ cộng đồng. Một Đà Nẵng muốn đứng trong nhóm những thành phố dẫn đầu đất nước và vươn tầm khu vực, trước hết phải là một thành phố mà ở đó mỗi người dân đều xem việc học là việc của cả đời.

Tóm lại, người Đà Nẵng mới là con người xứ Quảng trong bối cảnh mới, nhịp sống mới. Từ những lưu dân mở cõi, những thương nhân đón thuyền buôn bên bến Hội An, những sĩ phu Duy Tân đến người Đà Nẵng hôm nay, mạch nguồn ấy vẫn chảy: cởi mở để hội nhập nhưng vẫn giữ gìn bản sắc; cương trực để đối thoại trong kỷ cương; nghĩa tình để đồng hành nâng cao chất lượng sống; hiếu học để năng động, sáng tạo và vươn lên. Hai nhánh văn hóa Quảng Nam và Đà Nẵng đã lại hòa cùng một nhịp chảy; điều cần là mỗi người Đà Nẵng hôm nay giữ cho dòng chảy ấy luôn trong trẻo và tràn đầy sức sống. Khi ấy, nhịp sống mới sẽ giúp họ trở thành phiên bản tốt đẹp hơn trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

V.Đ.A

Vũ Đình Anh: Tiến sĩ, Phó trưởng Khoa Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh khu vực III

Chú thích:

1. Nguyễn Văn Xuân (2020), Toàn tập, tập 4, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, tr. 101.

2. Báo Đà Nẵng (2025), “Lễ công bố nghị quyết của Quốc hội về sáp nhập tỉnh Quảng Nam và TP. Đà Nẵng”, https://baodanang.vn/truc-tiep-le-cong-bo-nghi-quyet-cua-quoc-hoi-ve-sap-nhap-tinh-quang-nam-va-tp-da-nang-3200002.html.

3. Ngô Đức Thịnh (2003), Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa Việt Nam, Nxb Trẻ, tr. 294.

4. Cristoforo Borri (2019), Xứ Đàng Trong, Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, tr. 82

5. Nguyễn Văn Xuân (2020), Toàn tập, tập 4, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, tr. 78.

6. Thủ tướng Chính phủ (2023), Quyết định số 1287/QĐ-TTg ngày 02/11/2023 về Phê duyệt “Quy hoạch thành phố Đà Nẵng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050”.

7. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.

8. Thành ủy Đà Nẵng (2025), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố trình Đại hội đại biểu lần thứ I Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2025 - 2030.

9. Thành ủy Đà Nẵng (2025), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố trình Đại hội đại biểu lần thứ I Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2025 - 2030.