Mạch ngọt dưới lòng phố Hội

03.11.2026
Chế Diễm Trâm

Mạch ngọt dưới lòng phố Hội

Giếng Bá Lễ và giếng đá Trà Quế. Ảnh C.D.T

Sau chuyến tham quan giếng Chăm ở làng Thành Tín (xã Phước Hải, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận; nay là xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa) vào tháng 7 năm 2026, tôi lại nhớ đến giếng Bá Lễ và giếng đá Trà Quế ở Hội An. Trong tâm tưởng, ba chiếc giếng cổ ấy như kết nối với nhau, mang những dấu ấn riêng của văn hóa Chăm trên dải đất miền Trung.

Giếng Chăm cổ thường không sâu, cho thấy người Chăm xưa rất giỏi tìm mạch nước ngầm. Nhà nghiên cứu văn hóa Chăm Inrasara, trong bài viết Bingun giếng vuông Chăm, cũng nhận định: “Người Chăm xưa giỏi về cách tìm ra mạch nước, cho dù bất cứ nơi đâu, giữa lòng biển hay ở vùng đất cát, miền trung du hay đồng bằng, họ đều tìm được mạch nước ngọt. Nhưng đâu là bí quyết tìm ra mạch nước không bao giờ cạn sau hàng trăm, hàng ngàn năm như thế? Vẫn là bí ẩn! Bí ẩn như chất kết dính gạch tháp Chàm”.

Ngoài việc được đào ở nơi có mạch nước không bao giờ khô cạn, giếng Chăm cổ còn độc đáo ở vật liệu và kỹ thuật xây dựng. Ở đáy nhiều giếng có một khung gỗ hình vuông. Thành giếng có thể hình vuông hoặc hình tròn, trong khi khung đáy vẫn vuông vức. Gỗ làm khung đáy được cho là loại gỗ bền chắc, có thể tồn tại lâu năm trong môi trường ngập nước. Bên trên khung gỗ, đá hoặc gạch được xếp chồng lên nhau, có nơi không dùng vữa kết dính. Cách bố trí vật liệu và lựa chọn mạch nước góp phần tạo nên nguồn nước trong, mát, gắn bó với đời sống cư dân qua nhiều thế hệ.

Nước giếng Chăm không chỉ phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp mà theo một số tư liệu, còn được cư dân Chăm cổ dùng để cung cấp hoặc trao đổi với tàu thuyền qua lại trên biển. Một số giếng Chăm nổi tiếng vì nằm gần biển nhưng nước vẫn ngọt, trong, như giếng Xó La trên đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi), những giếng cổ ở Cù Lao Chàm (thành phố Đà Nẵng) hay giếng Thành Tín ở tỉnh Khánh Hòa.

Ngày nay, khi nước máy đã về đến tận bếp của rất nhiều gia đình, các giếng Chăm cổ không còn được khai thác nhiều như trước. Dẫu vậy, ở một số nơi, người dân vẫn duy trì tục thờ Thần Giếng và lưu truyền nhiều câu chuyện về giếng cổ linh thiêng.

Tôi có nhiều dịp đến Hội An, nhưng tiếc là lần nào cũng vội. Đi cùng đoàn tham quan với anh chị em văn nghệ, chúng tôi thường muốn trải nghiệm càng nhiều nơi càng tốt. Tuy vậy, lần nào tôi cũng cố thu xếp đến thăm giếng Bá Lễ giữa lòng phố cổ. Tôi nhớ lần đầu đến giếng vào buổi tối, người dẫn đường là hai mẹ con cô giáo đồng môn, Tiến sĩ Văn Phương Trang, công tác tại Trường THPT chuyên Lê Thánh Tông. Đường vào giếng khá vắng, càng đi sâu chỉ còn ba chúng tôi. Trời tối nên tôi chưa thể quan sát kỹ. Trong một chuyến đến Hội An sau đó cùng Chi hội Văn học Khánh Hòa, tôi trở lại giếng Bá Lễ vào buổi sáng. Khi ấy có người đến chở nước về bán cho các hàng quán, nhờ vậy tôi có dịp múc nước uống thử. Quả thật, nước giếng rất trong và ngọt. Theo lời người đàn ông làm nghề chở nước, giếng Bá Lễ chưa bao giờ cạn, cũng không nhiễm phèn, ngay cả mùa hè. Người dân địa phương vẫn truyền nhau rằng một số món ăn đặc sản của Hội An, nhất là cao lầu, phải dùng nước giếng Bá Lễ chế biến mới ngon, mới đúng vị.

Tấm bảng gỗ dựng bên giếng giới thiệu vắn tắt về công trình. Theo một số tài liệu, giếng Bá Lễ có từ thế kỷ X và đã trải qua nhiều lần tu sửa. Có người cho rằng giếng nằm trong vườn nhà ông Bá hộ Lễ nên mang tên Bá Lễ. Lại có người kể rằng nhà ông Bá hộ Lễ ở gần giếng, bà Bá hộ từng bỏ ra 100 đồng Đông Dương để sửa giếng, từ đó người dân quen gọi là giếng Bá Lễ.

Đáy giếng Bá Lễ là một khung gỗ lim rộng bản, vừa hạn chế sụt lún vừa thanh lọc nước. Thân và miệng giếng đều hình vuông, mỗi cạnh khoảng một mét. Thân giếng được xây bằng gạch Chăm. Từ mặt đất trở lên, thành giếng cao khoảng tám tấc, dày khoảng hai tấc, đã được trét thêm xi măng. Bên trong, quanh thành giếng, rêu bám xanh rì, mang lại cảm giác rất cổ xưa.

Đến Hội An, tôi còn đặc biệt yêu thích làng rau Trà Quế, với những luống rau mơn mởn và hương thơm nồng nàn của cây trái, cỏ hoa trên cánh đồng được chăm chút hài hòa, đẹp mắt.

Năm 2012, nhà văn Cao Duy Thảo (Khánh Hòa) tặng tôi cuốn Sóng vỗ mạn thuyền vừa xuất bản. Đọc bài bút ký Bạn ở rừng, kể lại kỷ niệm chiến trường trong chiến dịch Tết Mậu Thân 1968, tôi nhớ mãi đoạn văn: “Chuyến đó tôi theo giao liên xuôi sông lạch vào đến tận cửa ngõ Hội An, lọt vào làng rau Trà Quế lúc chặp tối, nghiêng bên nào cũng sực nức mùi thơm của những bạc hà, hành ngò, húng tía... Hội An ở ngay phía trước mặt, chỉ cách một dải sông nhỏ”. Năm 2018, trong chuyến thực tế sáng tác cùng Chi hội Văn học Khánh Hòa, tôi háo hức biết bao khi lần đầu được đặt chân đến làng rau Trà Quế. Mùi thơm dìu dịu, man mát của đồng bãi, rau trái như lan tỏa khắp không gian. Ấn tượng ấy khiến tôi viết ngay một tản văn mang tên Về Trà Quế, quay phía nào cũng nồng nàn. Bài được đăng báo sau đó.

Cuối tháng 3 năm 2025, trong lần trở lại làng rau Trà Quế, tôi ưu tiên thăm giếng đá cổ của người Chăm và hầu như dành trọn thời gian tham quan của đoàn cho việc khảo sát giếng Chăm cổ này, kể cả đi ra tận bờ sông Cổ Cò để ước tính khoảng cách giữa bờ sông và giếng.

Giếng đá Trà Quế tương truyền là giếng cổ được xây dựng thời kỳ Champa, về sau người Việt kế thừa và sử dụng phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của cộng đồng. Giếng đá Trà Quế có dạng trên vuông dưới tròn, phía dưới là gạch, phía trên xếp đá theo kỹ thuật chồng lớp không có vôi vữa. Thành giếng hình vuông, bốn góc của thành giếng có 4 trụ đá hình vuông kích thước cạnh 35 x 35 cm. Miệng giếng vuông, mỗi cạnh 100 cm, thành dày 10 cm, cao 80 cm. Điểm đặc biệt của giếng Trà Quế không chỉ ở cấu trúc độc đáo thể hiện qua việc kết hợp giữa vật liệu gỗ, gạch và đá mà còn ấn tượng ở kỹ thuật xây và cách tạo dáng.

Hỏi thăm một bác nông dân đang chăm sóc rau gần giếng, bác cho biết nước giếng trong, ngọt và không bao giờ cạn, là nguồn nước chủ yếu cho cả làng rau Trà Quế từ bao đời nay. Tuy nhiên, hiện nay, người trồng rau đã dùng hệ thống tưới phun nên giếng đá ít được dùng tới. Tôi thử nhìn vào lòng giếng, thành giếng rêu phong xanh um, giếng cổ thêm vẻ cổ kính.

Hội An là vùng đất sinh tụ của các cộng đồng cư dân từ thời Sa Huỳnh, qua Champa, rồi Đại Việt. Nhưng theo nhiều tài liệu thì làng rau Trà Quế được hình thành vào khoảng thế kỷ XVI do những cư dân Đại Việt từ phía Bắc di cư vào, quần tụ quanh cái giếng Chăm cổ mà hình thành một làng rau truyền thống. Ai về Trà Quế mà coi/ Trà Quế có nghề ngâm giá đậu xanh/ Sáng mai đi bán rau hành/ Khuya về gánh nước canh năm chưa nằm (Ca dao).

Từ lâu, giếng đá cổ đã trở thành một trong những điểm dừng chân thu hút du khách khi đến thăm làng rau Trà Quế.

Mỗi chiếc giếng Chăm cổ mang một dáng vẻ riêng. Giếng Thành Tín là cặp giếng có kết cấu gỗ, nước hơi đục như nước vo gạo và có mạch nước tự trào. Giếng Bá Lễ vuông vức với những lớp gạch cổ, nước trong vắt; còn giếng đá Trà Quế lại độc đáo bởi cấu trúc dưới tròn, trên vuông, kết hợp giữa gạch và đá. Dẫu khác nhau về hình dáng, vật liệu và đặc điểm nguồn nước, cả ba đều gợi nhắc đến kỹ thuật xây giếng và khả năng tìm mạch nước của người Chăm xưa.

Ngoài kỹ nghệ xây tháp, làm gốm, dệt thổ cẩm... người Chăm xưa cũng rất giỏi trong kỹ thuật đào mương, xây đập, đào giếng. Và cũng như cách dựng tháp, giếng của người Chăm cũng có “phong cách” khá phong phú, không lặp lại giống nhau hoàn toàn. Không chỉ là cái giếng để lấy nước ăn uống, sinh hoạt, sản xuất, qua bàn tay và khối óc của người Chăm, giếng vuông cổ bỗng khoác thêm hình hài của những công trình sáng tạo có giá trị phi vật thể thật độc đáo.

Rời làng rau Trà Quế, tôi vẫn nhớ mãi hình ảnh chiếc giếng đá rêu phong nằm lặng lẽ giữa những luống rau xanh mướt. Cũng như giếng Bá Lễ giữa lòng phố cổ, chiếc giếng ấy đã đi qua bao mùa mưa nắng, chứng kiến biết bao đổi thay của vùng đất Hội An. Nước giếng vẫn trong, vẫn ngọt, như mạch nguồn văn hóa chưa bao giờ đứt đoạn. Và tôi chợt nghĩ, những chiếc giếng cổ không chỉ giữ nguồn nước ngọt cho đời mà còn gìn giữ hồn cốt của phố Hội qua bao thế hệ.

C.D.T