Câu hỏi của thơ

Thơ là gì? Một câu hỏi tưởng như cũ nhưng chưa bao giờ có lời đáp trọn vẹn. Trong bối cảnh thi ca đương đại với nhiều biến động, câu hỏi ấy không chỉ dành cho người đọc hay nhà phê bình, mà trở thành lời tự vấn của chính thơ về cảm xúc, hình hài và khả năng tồn tại trong một thời đại đang đổi thay từng ngày.
Cá tính và tinh thần thời đại của thơ
Thơ là gì? Đó không chỉ là câu hỏi về thơ, cho thơ mà còn là câu hỏi của thơ.
Khi bạn đọc hỏi “thơ là gì?” thì đó là câu hỏi về thơ.
Khi nhà phê bình hỏi “thơ là gì?” thì đó là câu hỏi cho thơ.
Khi nhà thơ tự hỏi “thơ là gì?”, thì đó là câu hỏi của thơ, là lời tự vấn.
Câu hỏi giống nhau, song đối tượng cần được trả lời khác nhau, nhu cầu tra vấn khác nhau. Và đòi hỏi những đáp án khác nhau.
Thơ là cảm xúc. Đúng, nhưng chưa đủ. Bởi thơ không chỉ là cảm xúc mà là sắc màu cảm xúc. Cảm xúc không là một hằng số mà là biến số. Chính biến số của cảm xúc khi tương tác với đời sống làm cho cảm xúc luôn nóng hổi, luôn cá thể, luôn thời đại. Cảm xúc của ngày hôm qua, của thế kỷ trước, của thế hệ trước khác với cảm xúc của hôm nay, của thế hệ này, của cá thể này trong khoảnh khắc này. Khi khuôn thơ vào hai chữ “cảm xúc” chung chung theo mặc định xã hội thì cảm xúc đó không còn là cảm xúc của thơ ca, nó có thể là cảm xúc của công dân, của đạo, của chủ nghĩa nhưng nó mất đi sự chân thật của thơ. Chính vì vậy mà khi nhà thơ vay mượn cảm xúc của hôm qua, thơ trở nên giả đi, xơ đi. Nguyễn Du là thiên tài, Độc Tiểu Thanh ký là tuyệt tác, song đó là thiên tài và tuyệt tác của thời đại Nguyễn Du. Trốn chạy hiện tại, ngả bóng về hơn 300 năm trước để khóc người tài hoa, lênh đênh tận 300 năm sau để tìm kẻ tri âm chính là sắc màu cảm xúc của thơ ca thời trung đại, nơi mà thế giới tâm hồn con người (忄) luôn được che đậy (冖) bởi khăn (巾), bọc kín bởi áo (衣) thành nỗi u hoài (懷) sâu xa; chính vì thế mà thi đề “thuật hoài”, “cảm hoài” xuất hiện với tần suất cao trong văn học thời trung đại.
Con người ngày hôm nay với sự giải phóng bản ngã, giải phóng cảm xúc cá nhân thì sự che đậy lại trở thành thiếu sức sống, thành lập lờ, đánh tráo. Vả lại, ngay trong thời cổ điển mà những cá tính thi ca mạnh vẫn luôn tồn tại ở thế cá nhân. Hồ Xuân Hương gai góc, Nguyễn Công Trứ ngất ngưởng, Tú Xương cay nghiệt. Làm nên một thời thịnh Đường trong thi ca Trung Quốc nhờ vào công lớn ở Lý Bạch cao, Đỗ Phủ sâu, Bạch Cư Dị rộng. Xuân Diệu “mới nhất trong các nhà thơ mới” song điệu tâm hồn ấy qua vay mượn gần một thế kỷ nay đã trở nên mòn sáo. Bởi vậy, việc mô phỏng những cảm xúc kiểu mẫu chỉ có thể cho ra sản phẩm là bài tập thực hành thơ mà nó chưa phải là thơ.
Thơ là tiếng vọng của thời đại mà nhà thơ đang sống. Có những người chỉ sống có một thập kỷ và kiên quyết bám riết lấy thập kỷ “của mình” mà từ chối thời gian đang đến, và có nguy cơ trở thành những ngôi thơ bảo hoàng. Thời gian thì vận động. Khi dũng cảm ghi thật những cảm xúc của góc khuất cá thể với ma sát rớm máu của thời đại thì mới thật có thơ. Thời đại hôm nay không còn là thời đại vĩnh hằng của thời trung đại, cũng không là thời đại với lập trình 5 năm, 10 năm, 20 năm… Thời đại tương tác với cá thể thành một tiểu vũ trụ đầy biến ảo, có khi dị dạng. Không tìm được tiểu vũ trụ riêng tư đó, nhà thơ vẫn có thời đại của cộng đồng mà không có được thời đại của riêng mình, cho thơ của mình. Góc riêng trải nghiệm đó cũng là giải phân cách đầu tiên giữa công chúng yêu nghệ thuật và nghệ sĩ.
Hình hài và những trăn trở của thơ
Thơ là hình hài con chữ được tổ chức thành một chỉnh thể nghệ thuật. Là nhạc tính, là thi ảnh, là cấu tứ, là nhãn tự… Là đúng và chưa đủ. Thi luật vừa tạo ra hình hài thơ vừa cướp mất linh hồn thơ. Ngay chính trong thời kỳ xã hội phong kiến với nền Nho học vững vàng, với cơ chế tuyển chọn nhân tài bằng khoa cử, trăm nghìn ông nghè, ông cử mà liệu có được mấy nhà thơ? Nghe đâu chính ông nghè Tam Nguyên Yên Đổ đã ngợi tụng tú tài Trần Tế Xương rằng: Dù ai chín suối Xương không nát/ E đến nghìn thu tiếng vẫn còn.
Là ông Tam Nguyên trân trọng cái cách phá thơ, phản thơ, từ chối thi luật để làm cho thơ trở nên sống động của nhà thơ Tú Xương. Và khi làm tuyển tập Việt Nam thi nhân, nhà phê bình Hoài Thanh than thở rằng “đọc có ngàn bài thì có đến gần một ngàn bài thơ dở”. Ấy là khi thơ đã thành tên gọi là “Thơ Mới”.
Hình hài mới của thơ hôm nay ở đâu, như thế nào... hãy còn là những câu hỏi lớn. Mà kiểu bất thần đổ bóng chữ ra thơ như tài năng Lê Đạt đâu phải dễ. Chỉ biết xôn xao đâu đó là trữ tình điệu nói, phản thơ, giải cấu trúc, giải trung tâm… hình hài cụ thể không rõ nhưng chắc chắn nó không phải là cái “kinh nghiệm làm thơ”. Và vì không rõ nên nó luôn mới, bởi kinh nghiệm là thành tựu đã qua.
Tạm ghi nhận vài ý thơ (của các tác giả Đà Nẵng) để lại ít nhiều hưng phấn cho người đọc trong thời gian gần đây:
Đêm guitar đen kịt/ Góc khuất nào của người/ Đạn bom và chất độc/ Tức tối giết nhau chơi (Đêm guitar - Nguyễn Nho Khiêm). Ngôn ngữ thơ không còn óng chuốt mà đậm chất đời thường tạo một kết nối cần thiết cho đời và thơ. Đọc hết bài người đọc còn nhận ra tính đa nhiệm và bất xác tín của thời đại facebook.
Gần đây trong tập thơ Dưới lớp vỏ ngôn từ, Lê Đức Thịnh đã thử nghiệm một thể tự do của ký tự. Nó không thuộc về hình thức thơ, không thuộc về văn xuôi theo đúng khái niệm đã cũ, nó là vạt nắng trời tự sáng, là cơn mưa lạ không dự báo từ những đám mây. Nó vun những cái quen để làm nên lạ: Màu xanh Thăng Bình được viết lên từ những đồng cát/ dầu chúng lúc nào cũng lặng im như ngơi nghỉ/ những cồn cào cơn khát triền miên/ để bung nở thành vụ mùa (Tráng ca cho những đồng cát).
Nhà thơ trải nghiệm hơi thở cuộc sống từ từng phiến thời gian, từ góc sống hẹp để nghe nhịp điệu cuộc sống phả sau gáy, trước mũi bàn chân khi đại dịch tràn qua: Những con đường im ắng/ Nỗi sợ vô hình giăng giăng/ Làn hơi hít thở dày đặc những mối nguy mơ hồ (Mùa thu lạ - Nguyễn Kim Huy).
Khuynh hướng tiếp nhận phi tuyến tính, giản lược đọc, tìm đáp án trắc nghiệm, vừa hướng đến công chúng tiếp nhận đa tầng vừa từ chối lượt like ảo cũng là những yếu tố vừa gợi ý vừa tác động đến sáng tạo của nhà thơ. Không thành tuyên ngôn, song dường như Đỗ Thượng Thế rất ý thức điều này: Lướt từng khung thẻ ảnh/ Hoa Tỉ Muội, Nhi’ Koko, Kun Lazys, Dâu Tây, Nhocmit Love…/ (...)/ Lẩn khuất câu thơ con thằn lằn tặc lưỡi/ Ảnh trên tường cứ nối tiếp nhau chớp hiện/ Thật lòng anh không muốn nghe những-đôi-khi của chính mình/ Rằng đăng xuất khỏi bóng mây giêng ngời ngợi (Thơ thay cho ảnh bìa của Facebook).
Dường như trong những trích đoạn của những giọng riêng hé mở ra một giọng điệu chung: giọng điệu thời đại. Đó cũng là nỗ lực của các nhà thơ. Giọng điệu thơ là giọng điệu độc đáo mà không độc lập với giọng đa thanh của thời đại. Song hãy còn tiệm cận mà chưa thật tiếp cận. Thời đại nhà nhà cùng viết đã mở rộng đến vô cùng biên độ giọng điệu văn chương và buộc người viết phải suy ngẫm. Khi đọc, nghe giọng phi biên tập của những ký ức vụn, giọng bông phèng đánh bẫy của facebook, tôi tự hỏi có bao giờ nó có thể thành giọng của thơ ca thời đại một cách nghiêm túc? Chỉ biết ngay trong thời trung đại, và trong chuyện nghiêm túc nhất mà cụ Nguyễn Khuyến đã bông phèng một cách rất đứng đắn rằng: Lại thuê một lũ phường kèn/ Vừa đi vừa thổi mỗi bên dăm thằng (Di chúc).
Thời đại công nghệ là thời đại xuất hiện khái niệm vận tốc thời gian bởi sau thời gian tuyến tính thay cho thời gian tuần hoàn là thời gian phi tuyến tính thay cho thời gian tuyến tính. Và thời gian tự thân nó cũng vận động một cách kinh hoàng. Tất cả đòi hỏi bộ cảm biến cực nhạy của nhà thơ. Khi mất đi cảm giác về sự vận động và biến đổi về thơ, chúng ta đã thuộc về quá khứ. Đầu thế kỷ hai mươi, khi Thơ Mới ào ạt xung phong đẩy cái cũ về quá khứ, một nhà thơ cũ đứng giữa hai lằn ranh cũ - mới đã cảm nhận rõ nét vận tốc thời gian của vận động thi ca lúc ấy: Cái hạc bay lên vút tận trời/ Trời đất từ đây xa cách mãi (Tản Đà - Cảm thu tiễn thu).
Dường như vẫn tồn tại một an toàn bất an cho thơ. Về phía nhà thơ thì hằng ngày vẫn đọc thơ. Rất yên tâm bởi chúng ta biết đó là thơ, với các tiêu chí có sẵn. Và, chúng ta đang đọc thơ của quá khứ. Đa phần các nhà thơ vẫn yên tâm đang làm trọn vai trò của quá khứ. Về phía công chúng, chính tri thức phổ cập từ cái cũ khiến một bộ phận người yêu thơ đang ngộ nhận mình là nhà thơ.
Rất cần những cảm nhận tinh nhạy như Tản Đà thuở trước mà cảm thơ - tiễn thơ. Câu hỏi về thơ cho các nhà thơ cũng như câu hỏi về chúng ta cho các nhà vật lý: Chúng ta là gì trong thế giới vô tận và sinh động này? (Carlo Rovelli).
Thế giới thơ là vô tận. Điều này các nhà thơ đều đồng ý.
Nhà thơ đã giới hạn thơ vào một vài hiểu biết nhỏ bé với vài thực hành đơn sơ khiến đa phần thơ đang lưu hành, mới ra lò nhưng đã hết hạn sử dụng. Điều này thì rất tự ái. Nhưng nó thật.
Và, tìm hướng đi đối với một nhà thơ càng trở nên là một thách thức hơn bao giờ hết.
N.T.A