Người nơi cuối hẻm

29.05.2026
Lệ Hằng

Người nơi cuối hẻm

Minh họa Hồ Đình Nam Kha

Hẻm cụt. Những vòng hoa đứng héo rũ trong sân lẫn ngoài ngõ. Trong nhà, người ta đang cãi nhau. Chì chiết. Hậm hực.

Đám tang đã xong. Cả hẻm vừa kịp thở phào được hai hôm thì hôm nay lại mở cửa mả, rộn ràng thêm một bận nữa. Hẻm vốn nhỏ, bình thường hai xe máy gặp nhau đã phải dè chừng, gặp con xe to tướng là phải lựa thế lách qua, vậy mà chẳng hiểu bằng cách nào, suốt mấy ngày tang lễ, xe cộ khách khứa vẫn ra vào nghênh ngang.

“Ông bà thật có phước”. Tôi nghe vài người khách lạ xì xào lúc họ đi ngang qua nhà mình. Đám tang nhà cuối hẻm, vào giờ cao điểm, nhiều người phải gửi xe tận ngoài kiệt rồi đi bộ vào. Đông lắm! Chỉ riêng lượng người đội khăn sô, mặc áo tang thôi đã đủ thấy chóng mặt. Ông bà có đến sáu người con, bốn trai hai gái, chưa kể dâu rể cháu chắt. Tôi không biết hết họ, bởi họ sống tản mác khắp thành phố hoặc đi làm ăn xa, hiếm khi thấy mặt ở đây. Họ ăn mặc tân thời, nói năng hoa mỹ, cư xử lịch thiệp chứ không cục mịch như dân trong hẻm. Cánh đàn ông người nào trông cũng bảnh tỏn, trí thức, cánh đàn bà cả dâu lẫn con thì quý phái lộng lẫy. Tôi thấy họ trang điểm đậm trong những ngày tang gia bối rối.

Mấy ngày qua, người trong hẻm chẳng ai tập trung làm việc nổi. Tiếng kèn trống đám ma quyện lẫn tiếng chuông mõ tụng niệm khiến đầu óc nhão nhoẹt. Thêm nữa là ai cũng bận. Bận quan sát, bận phân tích, bận đồn đoán và rỉ tai nhau những chuyện động trời.

Ai đó kể rằng ông anh cả nhìn bệ vệ sang trọng thế chứ nợ nần đeo đầy mình. Chẳng biết ai tung tin, nhưng tôi nghe thế, và cả con hẻm này cũng nghe thế. Rồi nghe đâu có cô chị sắp ly dị chồng dù con cái đã đùm đề hai, ba đứa. Rồi lại có tin họ sắp bán nhà. Mặc dù là nhà cuối hẻm nhưng đất đang lên giá, nơi này giờ là “đất vàng” của thành phố, chỉ cần rao bán một phát là có người tới hốt ngay. Khu đất dễ đến trăm rưỡi mét vuông, bộn tiền đấy. Rồi cô Út sẽ về đâu? Không ai biết nhưng dễ chi được ở tiếp trong cái nhà này. “Nữ sanh ngoại tộc”, đời ông bà qua rồi giờ quyền quyết định là ở mấy ông anh. Bởi, con gái có thì có lứa, ngót bốn chục rồi dễ mà thành bà cô già chứ chồng con gì nữa. Những lời bàn tán xao xác bên tai tôi kể từ hôm nhà ấy phát tang. Nhiều người bảo cô Út hy sinh tuổi xuân phơi phới của mình để tận tụy báo hiếu cho cha mẹ, ba bốn ông anh có ông nào về ở đó để cơm bưng nước rót, tắm rửa đổ bô cho cha mẹ già được ngày nào chưa, làm anh làm ả phải ngẩng mặt lên, để căn nhà lại cho em chăm lo thờ tự luôn là phải lẽ chứ chia chác gì nữa, không lẽ đuổi em ra đường, coi sao được...

“Mình thấy không được nhưng tiền nó bảo được. Cứ chờ mà xem. Chỉ khổ con Út”.

Đúng lúc bà Chín nói câu ấy thì ai nấy nhìn nhau rồi đồng loạt dỏng tai về phía cuối hẻm. Bên đó gay gắt lắm rồi. Bà Chín phe phẩy chiếc quạt mo, lững thững đi về phía ấy nghe ngóng.

“Âu cũng là cái số”. Người ta xầm xì. Cổ họng tôi đắng nghét. Ai cũng biết cô ấy chẳng khóc lóc, chẳng than vãn, chẳng kể lể điều gì, chỉ im lặng ngồi bên quan tài với đôi mắt ướt át. Cô ấy gầy đi nhiều, gầy rạc, hai mắt trũng sâu, gò má hóp lại. Tôi đã chứng kiến tất cả vì ngày nào cũng sang đó, chẳng phải để phụ giúp gì họ mà chỉ là vì muốn nhìn thấy cô ấy. Thấy lặng lẽ. Thấy thâm trầm. Thấy vò võ một mình giữa đại gia đình sáu anh chị xem mà ai cũng đã có nồi riêng, duy chỉ cô ấy là không.

Tôi thấy người con gái năm nào bây giờ ngồi đó, nuốt nỗi buồn nỗi tủi vào trong. Đám tang này, ngoài cô ấy ra, có lẽ họ vui mừng hơn là buồn bã. Người đi thì đã đi rồi, tuổi bà đã cao lại bị tai biến nằm một chỗ hơn chục năm nay. Trước khi tôi mua căn nhà này, nghe đâu hơn nửa con hẻm là đất của nhà họ rồi bán dần chỉ còn căn nhà chính cũng là nơi thờ tự của gia đình. Thế thời mỗi lúc một khác, có lẽ họ không bao giờ ngờ được có ngày đất chỗ này phải rải vàng mới có. Tôi là thằng cù bất cù bơ may mắn vớ được chỗ để chui vô chui ra thời điểm bất động sản bị đứng người ta bán thốc bán tháo. Cả hẻm chỉ mình nhà họ là có gốc có cội ở đây, dân nhập cư như tôi lúc nào cũng nhìn họ bằng đôi mắt nhiều phần vị nể. Tôi còn nể trọng họ vì họ toàn là người có học. Ông bà là giáo viên về hưu, con cái toàn người học cao bằng này bằng nọ. Nghĩ mình là thằng lang bạt tha phương cầu thực, lại chỉ làm công việc chân tay nên tôi luôn thấy giữa tôi và họ là hai tầng lớp khác nhau. Có những khoảng cách vô hình nhưng bền bỉ trong tâm thức và chúng cứ vời vợi lên mỗi khi tôi nghĩ về Dung, cô út của gia đình họ.

Tôi về đây khi Dung còn làm trong thư viện thành phố và nhà  còn  hai ông anh chưa vợ. Quản thư, một công việc bình thường và không kiếm được nhiều tiền, tôi biết, nhưng tôi hay bất kỳ người nào trong cái hẻm này khi tiếp xúc với Dung cũng thấy cô ấy xa cách giống như không thuộc về thế giới bỗ bã cục mịch của chúng tôi. Mặc dù tôi thích Dung biết bao nhiêu nhưng tôi chưa khi nào thấy Dung đẹp theo kiểu phô bày lộ liễu, tôi chỉ thấy Dung có chút duyên ưa nhìn. Một cô gái không phải đẹp cũng không phải giàu nhưng luôn khiến tôi thấy mình thua kém mỗi khi đối diện. Dường như cô ấy càng cúi xuống để gần gũi và thông cảm với những kẻ nhập cư như tôi bao nhiêu, tôi càng thấy khoảng cách giữa với Dung càng giãn ra bấy nhiêu.

Tôi không nhớ mình đã mất bao đêm nhìn về căn nhà có cây chuỗi vàng rũ xuống như tấm mành ấy. Khi tôi về đây, ông bà vẫn còn khỏe, tôi thường thấy họ thấp thoáng tưới cây sau giàn hoa trước cổng. Nhà nhiều hoa lá, cánh cổng sơ sài, khoảng sân vuông vắn sạch sẽ, nhìn vào đó thấy một nỗi hoài niệm xa xăm. Ngôi nhà khác biệt quá nên tôi đã để ý nhìn ngay từ ngày đầu về đây. Trong khi chúng tôi xây nhà ống, bắt điều hòa, cửa lấn sát ra mặt hẻm thì nhà họ lại có sân và thụt vào trong kín đáo; trong khi chúng tôi xây nhà nền phải cao hơn đường mấy chục phân thì nhà họ nền thấp hơn đường cũng mấy chục phân. Căn nhà đã xuống cấp nhưng người ta sống bình thản, giữ nếp sinh hoạt thanh cao, tôi đã nghĩ vậy khi biết họ dậy sớm uống trà, tưới cây, trồng rau, lâu lâu con cháu tề tựu về tiệc tùng đầm ấm. Tôi thường nhìn họ mà khao khát, dĩ nhiên tôi biết sẽ không bao giờ được như họ. Họ là vẻ huy hoàng của quá khứ kéo đến hôm nay, hiếm hoi như một vì sao lạc. Và tôi thầm thương trộm nhớ cô Út của gia đình họ trong rụt rè cũng như mặc cảm.

Một lần, tôi bứt khỏi mặc cảm thấp kém của mình để làm một việc động trời. Hôm ấy, bão đổ bộ vào thành phố mà cô Út của nhà họ vẫn còn ở thư viện. Tôi đóng cửa đi ngay sau đó. Tôi đi đón Dung. Dọc đường, tôi nghĩ có lẽ mình nên nói điều gì đó với cô ấy. Nhưng tất cả chỉ là “có lẽ”, chuyện đó không bao giờ xảy ra. Tôi đến nơi thì thấy Dung đã nép vào người con trai khác. Về sau, tôi đã từng thấy biết ơn khoảnh khắc ấy, biết ơn đấng nào đã sắp đặt cho tôi để tôi không phải nói ra điều tôi đang định. Tôi buồn, trong lặng lẽ, từ ngày này qua ngày khác nhưng nỗi buồn chỉ bảng lảng như sương, đến khi họ chính thức chia tay tôi mới cảm nhận sâu sắc niềm cay đắng.

Gia đình cô ấy không ai ủng hộ họ đến với nhau vì chàng trai Dung chọn không có gốc gác ở đây, anh ta cũng là một tên cù bất cù bơ nào đó trôi dạt tới thành phố như tôi nhưng còn kém hơn tôi, anh ta chưa mua nổi một cái nhà. Trong hẻm ai cũng bảo nhà họ có ăn có học nên lúc nào cũng đối đãi có vẻ thân mật tử tế với chúng tôi vậy thôi chứ thâm tâm họ coi thường, không bao giờ có chuyện ngang hàng hay sòng phẳng. Tôi tin Dung không phải vậy, tôi tin cô ấy nhìn mọi thứ vô tư và sòng phẳng, nhưng họ chia tay.

Vài năm sau, tôi lấy vợ. Cũng năm ấy, gia đình Dung xảy ra chuyện lớn. Bà bị tai biến chỉ nằm một chỗ. Dung nghỉ việc ở nhà chăm ba mẹ. Ông vẫn đi lại bình thường nhưng nghe nói mắc phải bệnh hiểm nghèo. Để toàn tâm toàn ý lo cho gia đình, chấm dứt mọi tơ vương khác trong lòng, tôi bàn với vợ về quê vợ làm ăn, căn nhà này sẽ bán đi, vậy là có khoản vốn kha khá để bắt đầu cuộc sống của hai vợ chồng ở quê. Vợ tôi đồng ý nhưng thời điểm đó nhà đất đang chạm đáy nên chúng tôi tạm thời cho thuê, chẳng sớm thì muộn thời cơ cũng sẽ đến thôi. Thế mà tôi đã trở về khi nó chưa kịp đến. Sau hai năm ở quê người, tôi trở về khi đã ly hôn, ngậm ngùi. Tôi lại một mình trong căn nhà cũ, tự an ủi mình có thể già đi và chết ở đây rồi người ta cũng sẽ lo tang sự và gánh đám cho tôi như tôi đã làm nhiều năm nay. Tôi thấy mình già cỗi đi nhiều sau cuộc hôn nhân buồn bã ấy.

Dung cũng thế, già đi nhiều khi cuộc sống chỉ còn thu gọn sau cánh cổng. Cô ấy là người con cuối cùng và duy nhất còn ở lại ngôi nhà này khi anh chị em ai cũng đã yên bề gia thất, có công việc và cuộc sống riêng, chỉ mình Dung gánh lấy đoạn đường cuối quá gian nan này cho cha mẹ già. Sự quan tâm của họ quá lắm chỉ dừng lại ở vài lời động viên, vài món ăn bổ dưỡng, những cuộc ghé thăm chóng vánh và tiền bạc chi tiêu hằng tháng. Tôi biết họ đề nghị cô ấy nghỉ việc ở thư viện và trả lương cho cô ấy theo tháng, như một sự bù đắp hoặc là ngã giá, tôi không biết nữa chỉ thấy trong chuyện này cô ấy thiệt thòi. Tôi trở về, chứng kiến sự ngắn ngủi của thanh xuân, sự tàn phai của tuổi trẻ nơi chúng tôi sống trong bất lực hoàn toàn. Tôi không thể làm gì hơn để kéo cô ấy ra khỏi sự già nua, buồn bã trong ngôi nhà nhiều hoa lá kia, ngoài việc thỉnh thoảng đến mượn một cuốn sách. Tôi dần có thói quen đọc sách. Tôi đọc để chống chọi với sự hiu quạnh đang bủa vây và để cho có chuyện mà nói với cô ấy những lúc rỗi rãi. Nhiều lần đứng trước ngôi nhà xập xệ có hàng hoa chuỗi vàng buông xuống như tấm rèm buồn bã, tôi tức giận thay cho Dung vì sự thờ ơ của những người làm anh làm chị trong gia đình này, tôi biết họ thờ ơ trước tuổi xuân và tương lai của cô ấy, họ làm như tất cả là lựa chọn của Dung, hoặc cuối cùng chỉ quy về một câu “số cô Dung vất vả”...

Ông mất. Ngôi nhà càng lạnh lẽo. Những chuyến viếng thăm của con cháu cũng thưa dần. Thời này, có lẽ người ta chỉ cần vài phút gọi video là đủ. Một dạo, bão về, mưa to nước ngập nhưng chỉ ngập căn nhà cuối hẻm vì nó đã thấp hơn đường gần nửa mét. Dung nhờ tôi sang giúp, phải kê cao giường cho bà nằm. Đêm ấy, mưa không ngớt được giây nào, tôi ngồi luôn với Dung tới sáng. Khi đã nói hết chuyện trên đời, chúng tôi im lặng nhìn nước dâng lên, lòng ầng ậc mưa.

“Sao Dung không lấy chồng?”.

Thâm tâm tôi nghĩ là mình biết rõ cô ấy lắm nhưng chẳng hiểu sao lúc ấy tôi hỏi thế. Tôi thấy rất buồn và muốn được nói thẳng vào những chuyện mình cần nói.

“Có phải vì anh chàng ấy?”.

“Anh ấy cưới vợ lâu rồi. Đâu tầm hai năm sau khi chia tay”.

Dung nói khi tôi kể về buổi chiều thấy Dung nép vào anh ta trong sân thư viện, nhưng cố tình không kể ra lý do tôi có mặt ở đó. Tôi không muốn nói sâu về vấn đề của mình, chỉ muốn khuyên cô ấy một câu.

“Lấy chồng đi. Chuyện gì thì chuyện, cần phải có gia đình riêng, Dung ạ. Nói thật đừng giận, phụ nữ càng lớn tuổi càng khó có con, mình đâu còn trẻ nữa…”.

Tôi nghẹn ngào. Dung quay đi, có lẽ cô ấy cũng đang cố giấu nỗi nghẹn ngào nào đó. Lát sau, Dung quay lại nhìn thẳng vào tôi, hỏi rằng mình có thể lấy ai bây giờ.

Đến lượt tôi quay đi, tôi phải tránh nhìn vào đôi mắt ấy, sợ mình không kìm nổi những trào dâng trong lòng. Giá mà… Giá mà có thể, tôi sẽ nói luôn là em có thể cho tôi một cơ hội được không? Và nói luôn là tôi đã phải lòng em từ những ngày đầu tôi đến đây, khi em nhờ tôi sang sửa cái ống nước bị vỡ trong phòng tắm đằng kia. Nói luôn tôi đã đau khổ, đã thấy mặc cảm, đã thấy thua kém rồi  đã thấy hụt hẫng thế nào khi nhìn em nép vào người khác, và đã buồn thế nào khi em phải chia tay… Cả khi về lại đây, tôi buồn lắm. Tôi muốn che chở em, muốn cuộc sống của em có những âm thanh mới thay cho nỗi trầm mặc dằng dặc dưới ngôi nhà cũ kỹ này… Tôi muốn lắm, muốn nhiều lắm nhưng tôi không thể nói gì cả. Em không bao giờ biết được lý do tôi ly hôn. Chúng tôi không thể có con mà nguyên nhân là ở tôi. Đồng ý tình cảm của tôi và vợ cũ chỉ ở mức nhàn nhạt chứ không thể sâu đậm được nhưng lý do chính là chuyện này. Giờ đây, sao tôi có thể…

*      *

Họ lại đến và cãi nhau. Không có tờ di chúc nào để lại. Ngày tôi khuyên Dung lấy chồng, tôi chỉ nghĩ đơn giản đến hạnh phúc riêng của cô ấy. Dung cũng chưa từng chuẩn bị cho quãng đời còn lại của mình sau khi cha mẹ đã mồ yên mả đẹp, tôi biết. Nhưng họ thì khác. Ông bà đổ bệnh bao năm rồi, họ chắc chắn đã có trù tính mà giả vờ lơ đi. Chẳng lẽ tới hôm nay khi cha mẹ đã nằm sâu dưới mồ mới biết đất này có giá?

“Thể nào cũng xâu xé nhau. Tội nghiệp nó. Quá lứa lỡ thì… Nghe nói mấy ông anh nhất định bán, mà không muốn chia cho con gái”.

Cả hẻm lại đổ ra nghe ngóng. Người tò mò, kẻ háo hức chờ xem tuồng hay. Mỗi người một ý, mỗi người một kịch bản riêng, họ còn đem ra cá cược. Riêng tôi ngậm ngùi, vừa lo lắng vừa thấy mình bất lực trong nỗi lo của mình. Tôi đã từng xem họ là mẫu mực, là trí thức… là vân vân, gì không biết nữa nhưng luôn âm thầm ngả mũ cúi chào từ xa. Họ đến bước này làm tôi thấy vừa đáng thương lại vừa chua chát. Là tiền bạc tàn phá tình thân hay là tự họ đã đánh mất? Thể nào Dung cũng trắng tay mà đi khỏi đây, tôi biết cô ấy lắm, hiền lành cả nể thế kia…

Ai nấy đi dần về cuối hẻm. Người ta bắt đầu nói đến án mạng, những chuyện nhan nhản trên cõi mạng ngày nay. Không, Dung ơi, lần này tôi nhất định sẽ kéo em ra khỏi nơi cũ kỹ tối tăm mốc thếch này. Tới đâu thì tới tôi cũng sẽ dắt em đi với tôi, mình kệ đời đi, kệ cho bọn họ chia chác nỗi bất an. Tôi bước thẳng vào trong sân. Tôi thấy Dung mắt đỏ kè, mặt đanh lại, lạnh như sắt. Em cầm trên tay một tờ giấy, nghiến răng tuyên bố rằng em sẽ chẳng đi đâu hết, căn nhà này là tài sản ba mẹ để lại cho gái út và tờ giấy trên tay là di chúc. Tất nhiên không ai trong số họ chấp nhận chuyện này, mặc Dung cố giải thích lý do mình giấu tờ giấy bấy lâu nay. Không ai muốn tin và không ai ngờ được sự phũ phàng này cả, tang mẹ còn sờ sờ đó chưa qua bốn chín ngày con cái đã đòi bán nhà bán đất hương hỏa để mà chia chác cấu xé nhau. Hay lắm, tôi mừng cho Dung, rõ ràng là phải đưa tờ di chúc ấy ra. Sau nỗi vui mừng là cảm giác dờn dợn, lần đầu tôi bắt gặp ánh mắt sắc lạnh ấy nơi em, lòng mông lung quá đỗi. Dung mà tôi quen hiền lành khiến tôi chỉ biết lo em thiệt thòi...

*      *

“Về sớm chút nữa thì hay rồi”. Giọng bà Chín gấp gáp: “Con Út nó bị mấy ông anh nó đuổi đi rồi”.

“Bà Chín nói sao, sao đuổi?”.

 “Om sòm từ sáng tới giờ. Nghe nói tờ di chúc là giả. Ai mà tin nổi cái con hiền vậy mà dám giả di chúc. Chuyện tày đình chớ giỡn. Mấy ông anh nó kéo tới đuổi nó đi với kêu người tới xem nhà luôn rồi. Phen này thì một cắc cũng đừng hòng. Khổ. Vừa khổ vừa mang cái tiếng...”.

Trời ơi, chuyện gì thế này, tôi chỉ ở công trình đúng một hôm thôi, sao có thể! Nhìn về cuối hẻm, thấy thấp thoáng mấy chiếc xe lạ, lòng tôi xụi xuống, chân tay không biết phải cử động cách nào.

“Mày thương con Út phải không? Nó mới đi tức thì, chạy kiếm về đi”.

“Sao…”.

 “Sao trăng gì, đi nhanh đi. Cả xóm này ai chẳng biết mày với nó…”.

Cuộc đời này lao xao quá, tôi chẳng biết em chọn hướng nào nhưng chắc chắn tôi sẽ gặp em. Hãy quên hết đi, tờ di chúc ấy là giả hay thật tôi không cần biết nhưng em hãy quên nó đi. Tôi cũng sẽ quên những tờ giấy của bệnh viện, đời sống này quá ngắn ngủi để nhớ mãi về những tờ giấy, em biết không.

L.H