Chạm vào xứ Quảng

06.07.2026
Lê Ngọc Sơn

Chạm vào xứ Quảng

Năm tôi học lớp 8, bố mẹ tôi quyết định dỡ bỏ căn nhà ngói cũ để xây một ngôi nhà mái bằng. Với điều kiện gia đình eo hẹp, không có nguồn thu nào ngoài đồng lương công chức, bố là giáo viên cấp hai, mẹ làm y tá bệnh viện, lại nuôi hai con nhỏ, thì việc xây nhà là một quyết định lớn về mặt tài chính. Vì thế, bố mẹ phải tính toán sao cho tiết kiệm nhất có thể. May sao, cậu tôi ở quê vừa mua được một chiếc xe tải. Cậu vừa chở thuê, vừa giúp bố mẹ tôi vận chuyển vật liệu xây dựng. Nào gạch, nào xi măng, nào sắt thép, ván gỗ… cậu đều mua tận nơi sản xuất hoặc từ các đại lý lớn ngoài thành phố rồi chở về. Nhờ vậy, ngôi nhà mái bằng được xây dựng với chi phí tiết kiệm nhất.

Hồi đó, tôi thích chiếc xe tải của cậu lắm. Mỗi lần cậu chở vật liệu tới, thể nào tôi cũng xin được leo lên ngồi ghế lái một lát. Cậu mua được chiếc xe tải này sau một năm đi đào vàng ở một huyện miền núi nào đó thuộc Quảng Nam. Sau này, nghe cậu kể lại, tôi mới biết đó là mỏ vàng ở huyện Phước Sơn. Đó là lần đầu tiên tôi nghe đến một vùng đất ở xứ Quảng, nơi chứa đựng những câu chuyện đầy tò mò đối với một cậu học trò, về những mỏ vàng thổ phỉ, nơi người ta có thể đổi đời nhanh chóng nếu gặp được vỉa vàng lớn. Tôi cũng từng học trong sách giáo khoa Địa lý rằng mỏ vàng lớn nhất Việt Nam nằm ở Bồng Miêu, thuộc tỉnh Quảng Nam. Vì thế, tôi luôn nghĩ rằng xung quanh vùng đất ấy hẳn còn nhiều vàng lắm, đủ để người ta sẵn sàng đánh đổi cả mạng sống chỉ vì một hy vọng đổi đời.

Sau một năm chạy xe nhưng thu nhập không ổn định,  có  những  lúc xe phải nằm nhà rồi lại tốn kém sửa chữa, cậu tôi quyết định bán xe và đưa cả gia đình từ Thanh Hóa vào Phước Sơn, Quảng Nam sinh sống. Đó là một quyết định lớn. Nhà cậu khi ấy có hai người con gái, kém tôi lần lượt năm và bảy tuổi. Cậu là em trai liền sau của mẹ, nên giữa tôi và các em, mỗi dịp về quê ngoại, tình cảm anh em luôn rất thân thiết. Bố tôi và cậu cũng rất hợp tính nhau. Từ khi gia đình cậu chuyển vào Quảng Nam, mỗi lần về quê, tôi đều thấy thiếu vắng một điều gì đó thân thuộc, và những háo hức mong chờ cũng vơi đi nhiều. Việc liên lạc giữa tôi và các em chỉ gói gọn trong những ngày Tết, khi gia đình cậu về quê. Ngày ấy chưa có điện thoại hay internet để mà gọi cho nhau thường xuyên.

Theo thời gian, cậu bé học cấp hai ngày nào cũng lớn lên, trở thành một sinh viên của một trường đại học kỹ thuật ở Thủ đô. Năm học thứ tư, tôi được bố mẹ mua cho một chiếc điện thoại di động cũ. Từ đó, thỉnh thoảng tôi có thể gọi điện trò chuyện với hai em ở Quảng Nam. Khi ấy, em nhỏ cũng đã học cấp ba, còn em lớn đã vào năm nhất đại học. Gần nhà em tôi ở Phước Sơn có một cô bạn học cùng em gái nhỏ, thân thiết với gia đình nên được cậu nhận làm con nuôi. Cô em này khá tinh nghịch nhưng cũng rất giàu tình cảm. Qua sự giới thiệu của em gái, cô bé chủ động nhắn tin làm quen với tôi. Những tin nhắn qua lại giữa một nữ sinh cấp ba và một chàng sinh viên năm cuối có chút nhí nhảnh, đôi khi vu vơ, có cả những ngây ngô và chân thành. Không có một mối tình nào nảy nở, tất cả chỉ dừng lại ở tình cảm anh em giản dị mà ấm áp.

Về sau, cô gái ấy trở thành sinh viên kỹ thuật của Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng. Ra trường, cô làm việc một thời gian ngắn ở công trường rồi rẽ sang lĩnh vực du lịch. Bây giờ, cô mở một nhà hàng bán đồ ăn Nhật Bản và theo đuổi những đam mê riêng tại Đà Nẵng, thành phố du lịch sôi động bậc nhất miền Trung. Những dịp tôi vào Đà Nẵng, dù đi với bạn bè hay cùng gia đình nhỏ của mình sau này, người em gái ấy vẫn luôn nhiệt tình đón tiếp ông anh không cùng huyết thống. Tình cảm chân thành ấy, tôi luôn trân quý và biết ơn. Không rõ đó có phải là nét đặc trưng trong tính cách của con người xứ Quảng hay không, nhưng qua người em gái ấy, tôi đã hiểu thêm nhiều điều về vùng đất này.

Nhưng cũng phải thú nhận, tôi là một kẻ vô tâm bậc nhất. Hồi Đà Nẵng bắt đầu tổ chức thi pháo hoa quốc tế vào mỗi dịp 30/4, tôi và người yêu, sau này là vợ tôi, có lần hẹn nhau đi du lịch cùng hai người bạn. Vì đi sát ngày nên phòng gần như kín hết. May sao, khi gọi điện hỏi em, em đã nhiệt tình chạy tới một khách sạn gần nhà, đặt giúp chúng tôi hai phòng, lại còn mua luôn vé xem pháo hoa. Tôi từ Quảng Ngãi ra Đà Nẵng trước một đêm, chờ bạn gái và một người bạn nữa từ Thanh Hóa vào sáng hôm sau. Đêm đó, dưới chân cầu sông Hàn, em dẫn tôi và một người bạn tới một quán nhậu ven sông. Anh em mấy năm mới gặp lại nên có biết bao chuyện để nói. Chúng tôi hứng khởi, uống tới gần nửa đêm. Chủ quán thấy mấy vị khách hào sảng nên tặng thêm một chai vodka, rồi ngồi xuống tâm sự về chuyện làm du lịch ở Đà Nẵng. Anh nói tiếng Anh rất tốt. Hỏi ra mới biết, trước đây anh làm nhân viên trong một khu du lịch, sau đó ra mở quán riêng. Em gái tôi khi ấy cũng vừa bỏ ngang ngành kiến trúc để chuyển sang làm du lịch. Em tâm sự rất chân thành: làm kiến trúc thì vất vả mà thu nhập không cao bằng du lịch, lại là con gái, đi công trình cũng không phù hợp nên em quyết định rẽ hướng. Câu chuyện từ ngày xưa đến hiện tại, từ nghề nghiệp đến cuộc sống, cứ thế nối dài tới gần nửa đêm.

Sáng hôm sau, tôi ra bến xe đón bạn rồi thuê xe máy chạy vào Hội An. Nhưng tôi lại chẳng để ý rằng em cũng muốn đi cùng. Em nói đã hủy hết lịch hẹn với bạn bè trong dịp lễ để ở lại thành phố đón tôi, vậy mà tôi vẫn vô tư chạy thẳng vào Hội An, không hề nghĩ ngợi. Hôm sau, khi trở lại Đà Nẵng, người bạn đi cùng tôi phải năn nỉ mãi em mới chịu làm lành. Dù đồng ý đi xem pháo hoa cùng cả nhóm, em vẫn lạnh lùng nhìn tôi, mãi đến gần cuối buổi mới nói chuyện trở lại. Nhưng sang ngày hôm sau, em lại khác hẳn. Em nhiệt tình dẫn chúng tôi đi khắp Đà Nẵng, đưa lên “Mắt thần Đông Dương”, tên gọi khác của Trạm Radar 29 trên bán đảo Sơn Trà, nằm ở độ cao 621 mét so với mực nước biển, rồi ghé thăm Bàn Cờ Tiên trên đỉnh Bàn Cờ, nơi nổi tiếng với bức tượng tiên ông đánh cờ và tầm nhìn toàn cảnh thành phố biển tuyệt đẹp, sau đó vào rừng ngắm cây đa ngàn năm tuổi. Đứng dưới gốc cây, mỗi người tạo một dáng thật kỳ quặc để bạn bấm máy. Bức ảnh ấy đến bây giờ, mỗi lần nhìn lại, tôi vẫn thấy hiện lên rõ nét sự đáng yêu, nhí nhảnh của cô em ôm gốc cây, quay mặt ra cười khúc khích.

Buổi chiều, em dẫn chúng tôi tới một quán nhỏ ở bãi Bụt dưới chân bán đảo Sơn Trà. Ngồi trong căn chòi nhô ra phía gành đá, nướng hải sản tươi ngon, giữa những người bạn vui tính, giữa tuổi trẻ yêu đời và yêu người, tôi thấy Đà Nẵng khi ấy thật hợp với những người trẻ, và để lại trong tôi một kỷ niệm khó quên. Đứng ở một góc, tôi nhìn ra tượng Quan Thế Âm Bồ Tát màu trắng cao lớn. Được biết, bức tượng cao tới 67 mét, mặt hướng ra biển với đôi mắt hiền từ, một tay bắt ấn tam muội, tay kia cầm bình nước cam lồ như đang ban phát phước lành cho chúng sinh. Em bảo, từ khi tượng được dựng lên, Phật Bà Quan Âm như chở che cho cả thành phố, giúp nơi đây tránh được những cơn bão dữ từ phía biển.

Chúng tôi tiếp tục chạy xe lên bán đảo Sơn Trà. Từ trên cao nhìn xuống, cả thành phố hiện ra với những dãy nhà cao tầng san sát và một vòng cung bờ biển tuyệt đẹp. Con đường uốn lượn lên núi, những chú khỉ ven đường ngơ ngác mà đáng yêu, tất cả sau này trở thành ký ức khiến tôi quay lại nơi này nhiều lần. Tôi đã từng chụp ảnh cưới ở đây vào năm 2016. Đứng trên thảm cỏ xanh, nhìn ra biển xanh xa thẳm bên dưới, góc chụp đẹp đến nao lòng. Bốn năm sau, tôi đưa con gái trở lại, chụp ảnh và đăng lên Facebook một dòng trạng thái đơn giản: “1 + 1 = 3”, kèm theo hai bức ảnh, ngày ấy và bây giờ. Rồi mới năm ngoái thôi, tôi lại đứng đúng vị trí đó, chụp thêm một bức nữa. Lần này, phép tính đã thay đổi: “1 + 1 = 4”, với hai đứa con nhỏ thích thú vẫy tay trong khung hình. Trở lại lần này, tôi nhận ra đàn khỉ trên đường lên bán đảo có vẻ đông hơn, và cũng dạn dĩ hơn, khi chúng sẵn sàng tiến ra tận đường để xin đồ ăn của du khách.

Lần đầu tiên được xem cuộc thi pháo hoa quốc tế ở Đà Nẵng, tôi không khỏi xuýt xoa. Trước đó, tôi vẫn nghĩ xem pháo hoa thì ở đâu cũng như nhau, chỉ cần có vị trí đứng đủ tốt là có thể ngắm trọn những chùm sáng rực rỡ trên bầu trời. Nhưng tôi đã nhầm. Màn trình diễn pháo hoa ở đây, khi kết hợp giữa âm nhạc và một kịch bản được dàn dựng chặt chẽ, lại diễn ra trên mặt nước sông Hàn, đã trở thành một tiết mục nghệ thuật thực thụ. Đó không chỉ là pháo hoa, mà là một màn trình diễn mãn nhãn, khiến tôi phải ngửa mặt trầm trồ theo từng nhịp bắn. Tôi gần như nín thở khi những chùm pháo dìu dặt theo giai điệu, rồi bất ngờ bùng nổ ở cao trào của bản nhạc.

Hóa ra, pháo hoa không chỉ đơn thuần là những tia sáng vút lên trời rồi nở tung. Trong tay những “nghệ sĩ”, mỗi khoảnh khắc đều được thổi hồn. Ánh sáng, âm nhạc và mặt nước hòa quyện, tạo nên một trải nghiệm kỳ diệu. Với tôi, màn biểu diễn ấy xứng đáng đến từng đồng tiền mua vé, thậm chí còn hơn thế. Đà Nẵng thực sự đã thành công khi tạo dựng được một điểm nhấn du lịch mang tầm quốc tế, biến cuộc thi pháo hoa hằng năm thành một sự kiện thu hút du khách trong nước và khắp nơi trên thế giới. Sở hữu những lợi thế tự nhiên như biển đẹp, núi non hùng vĩ, cùng chiều sâu văn hóa và ẩm thực, lại biết cách tạo dấu ấn riêng, nên không có gì ngạc nhiên khi du lịch Đà Nẵng trở thành một điểm sáng trên bản đồ Việt Nam.

Hình ảnh Cầu Vàng xuất hiện dày đặc trên các mặt báo và phương tiện truyền thông, đến mức nhiều nơi trên thế giới đã tìm cách “bắt chước”. Nhưng khó nơi nào có thể tái tạo được cảm giác đặc biệt ấy, cái không khí, cái điểm nhìn khoáng đạt, khi công trình ấy nằm trên đỉnh núi Bà Nà. Khi tôi lên Bà Nà, tôi nhận ra dòng du khách đã trở nên đa dạng hơn rất nhiều: từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ cho đến các nước phương Tây. So với lần trước, chỉ cần nhìn vào số lượng và sự đa dạng của du khách, tôi cũng có thể cảm nhận rõ sự phát triển mạnh mẽ của du lịch Đà Nẵng.

Gia đình tôi di chuyển bằng xe giường nằm qua đêm tới Đà Nẵng, thuê một căn hộ gần bãi biển Mỹ Khê. Chỉ cần băng qua đường là đã chạm vào biển. Trong những ngày ở đây, việc di chuyển vô cùng thuận tiện nhờ các ứng dụng như Grab, ăn uống thì phong phú với mức giá hợp lý.

Du lịch Đà Nẵng hội tụ đủ đầy những yếu tố hấp dẫn: những bãi tắm đẹp trải dài, và cả Hội An, nơi mang dấu ấn lịch sử, lung linh về đêm trong sắc màu của những chiếc đèn lồng. Hội An với những căn nhà mái ngói cổ kính, góc nào cũng đẹp để chụp hình. Đêm phố Hội khiến du khách không khỏi trầm trồ, thích thú. Những chiếc thuyền thúng xoay tròn, những trải nghiệm du lịch địa phương đặc sắc… Ở phía Nam Hội An, khu du lịch của Vingroup với vườn thú, các tòa nhà và khu nghỉ dưỡng hiện đại cũng mang đến thêm nhiều lựa chọn cho vùng đất Thăng Bình. Gia đình tôi đã có một kỳ nghỉ 3 ngày 2 đêm tại đây, và lũ trẻ thì chẳng muốn rời đi, bởi mọi thứ đều quá hấp dẫn đối với chúng.

Người em gái ở Phước Sơn, sau một thời gian làm việc cho các khu du lịch, đã tự tin mở một nhà hàng Nhật Bản. Mới hôm rồi, em vui mừng báo tin đã mở thêm một cơ sở nữa. Với con mắt kiến trúc được đào tạo bài bản, cộng thêm vốn sống và kinh nghiệm trong ngành du lịch, lại có người em trai là một đầu bếp tài hoa, hai chị em, một người quản lý, một người đứng bếp, đã gây dựng được một nhà hàng luôn đông khách. Lượng khách du lịch đông đảo khiến quán lúc nào cũng tấp nập. Nhịp sống du lịch có thể cảm nhận rất rõ qua những quán ăn như của em tôi, hay như khi ngồi thưởng thức đặc sản bánh tráng thịt heo ở các quán gần sông Hàn. Hôm đó, tôi ghé vào quán Bánh tráng thịt heo Đại Lộc trên đường Trưng Nữ Vương. Quán có hai gian phòng ăn mà không còn một chỗ trống. Một nhóm khách vừa rời đi, gia đình tôi lập tức ngồi vào thế chỗ. Món ăn không chỉ ngon mà còn được phục vụ nhanh chóng, chuyên nghiệp. Ngoài món thịt heo cuốn quen thuộc, tôi đặc biệt thích món bánh cuốn cá nục. Thịt cá nục tươi, ngọt, chắc, được ướp với sả, hành tím và tỏi nên có mùi thơm rất riêng. Rau sống ăn kèm thì tươi giòn, bánh tráng dai ngon. Ăn một lần, tôi đã tự hứa với mình rằng, lần sau quay lại nhất định sẽ ghé qua thêm lần nữa.

Sau bao lần nghe về Phước Sơn qua những câu chuyện đào vàng đầy hấp dẫn của cậu tôi, cuối cùng tôi và gia đình cũng có dịp đặt chân tới đó, nhân dịp cô em gái út, bạn thân của người em gái tôi nói trên, tổ  chức đám cưới. Phước Sơn nằm trên đường Hồ Chí Minh, có khí hậu trong lành, mát mẻ đặc trưng miền núi. Tôi vào trước ngày cưới một hôm. Vừa đến nơi, em gái đã nhất quyết đòi anh phải đi ăn một tô mỳ Quảng “chuẩn vị xứ Quảng” cho bằng được. Trước đó, tôi cũng đã từng ăn mỳ Quảng và cao lầu ở Hội An, nhưng em khăng khăng: “Ở đó chưa chắc đã chuẩn bằng quê em đâu”. Thế là em dẫn tôi vào một quán ăn có lẽ rất quen thuộc với người dân Phước Sơn. Quán thoáng rộng, khách ra vào đều đặn nhưng không quá đông đúc. Chúng tôi gọi ba tô mỳ cá lóc. Tôi chậm rãi thưởng thức: nước dùng thơm béo màu dầu điều, vị ngọt đậm của cá, cái bùi của lạc rang, cái giòn thơm của rau sống. Và đặc biệt, không thể thiếu quả ớt xanh - với tôi thì cay xé lưỡi, mà ăn rồi mới thấy “đúng là mỳ Quảng”.

Có lần tôi nghe một người bạn nói đùa: người Quảng Nam khi họp đồng hương ở xa, tiết mục quan trọng nhất là… chia ớt. Chia mà không đều là có khi “oánh nhau” thật chứ chẳng chơi. Câu chuyện chỉ là đùa vui, nhưng cũng đủ để thấy, mỳ Quảng mà thiếu ớt xanh thì như mất đi một nửa linh hồn. Ăn xong tô mỳ hôm đó, tôi “nghiện” luôn món này. May sao, ở gần chỗ tôi có một gia đình mở quán mỳ Quảng, bán kèm chả ram, bánh tráng cuốn và một vài món ăn khác. Hỏi ra mới biết, chủ quán là con dâu xứ Quảng. Để giữ đúng hương vị, sợi mỳ phải được chuyển bằng ô tô từ tận Quảng Nam ra. Kỳ công là thế, mà giá một tô mỳ ở đây cũng chỉ ngang một bát phở bình dân. Thỉnh thoảng, những buổi chiều tối, nhất là cuối tuần, được lót dạ bằng một tô mỳ Quảng nóng hổi thì còn gì bằng. Chủ quán còn nhận ship buổi sáng, nên món mỳ Quảng dần trở thành bữa sáng quen thuộc của tôi trước giờ đi làm.

Nói thì nói vậy, nhưng xứ Quảng trong tôi lại bắt đầu từ những trang sách tuổi mới lớn của Nguyễn Nhật Ánh. Cái làng Đo Đo, những miền quê của Trà Long, của Mắt biếc, của Ngạn si tình… làm sao tôi có thể quên. Những câu chuyện ấy, tôi đọc khi còn trẻ, và rồi chúng lặng lẽ đi theo tôi suốt cuộc đời. Sau này, khi bắt đầu viết, tôi biết thêm nhiều người con xứ Quảng nặng ân tình với quê hương. Tôi biết đến Nguyễn Thị Như Hiền với cuốn Mưa qua Triền Rang. Tôi cũng đặc biệt ấn tượng với tiểu thuyết Từ giờ thứ 6 đến giờ thứ 9 của Nguyễn Một, một cuốn sách ám ảnh về số phận con người đất Quảng trong chiến tranh. Trong cùng một gia đình, có người theo bên này, có người theo bên kia. Có những người con rời làng “nhảy núi”, có những người ở lại. Rồi một ngày, họ chạm trán nhau trên chính cánh đồng quê hương mà không hề hay biết. Đau đớn đến tột cùng là khi cuộc đọ súng kết thúc, những thi thể của những đứa con ở hai chiến tuyến lại nằm xuống ngay trước sân nhà cha mẹ, nơi ngày xưa chúng từng nô đùa, đuổi bắt. Một nỗi đau không gì bù đắp nổi. Miền quê Quảng Nam đậm ân tình mà cũng mang trong mình nhiều vết cứa. Vùng đất ấy còn không ít nhọc nhằn, không giữ chân được những đứa con khi trưởng thành. Họ rời quê, mưu sinh nơi phố thị, nhưng trong lòng luôn canh cánh một nỗi nhớ. Có lẽ vì thế mà những trang viết của các nhà văn xứ Quảng thường nặng một tấm chân tình. Tôi đọc, tôi hiểu, và càng thêm trân quý những con người ấy.

Đà Nẵng, rồi xứ Quảng trong tôi được ghép lại từ những mảnh ký ức như thế. Tôi, một người con xứ Thanh, qua những lần chạm đến, qua những gì đã thấy, đã nghe và đã cảm, dần dần hiểu hơn về vùng đất này. Ngày nay, khi Quảng Nam và Đà Nẵng lại về chung một nhà, xứ Quảng có thêm cơ hội để bù đắp cho nhau, tạo nên một không gian văn hóa - lịch sử liền mạch, đồng thời mở ra những động lực mới cho tương lai. Những điều tốt đẹp nhất, những thời cơ và vận hội đang dần hội tụ nơi mảnh đất ở chính giữa dải đất hình chữ S này, tôi tin, sẽ tạo nên những đổi thay mạnh mẽ. Và chẳng hiểu từ bao giờ, một tình cảm rất riêng đã lớn lên trong tôi. Tôi vui với sự phát triển của mảnh đất nhiều ân tình này. Mỗi lần trở lại, tôi lại thấy xứ Quảng thêm phần thân thuộc, thêm phần đáng quý. Có lẽ không chỉ vì nơi đó có người em gái ở Phước Sơn, có những người thân, có cảnh đẹp, có món ăn ngon, có bầu trời đêm rực rỡ pháo hoa, có Bà Nà mây trôi qua núi… mà là bởi tất cả những điều ấy hòa lại thành một thứ tình cảm khó gọi thành tên. Tôi chỉ biết một điều giản dị: tôi đã yêu mảnh đất này rồi.

L.N.S