Nước oa - ký ức giữa đại ngàn

06.07.2026
Tạ Nguyên

Nước oa - ký ức giữa đại ngàn

Khách tham quan về nguồn tại Khu di tích lịch sử Trung Trung Bộ - Nước Oa

Ẩn sâu giữa đại ngàn Trà My, Nước Oa từng là căn cứ địa đầu não  của  Khu  V  trong  những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Địa danh này vốn có tên gốc là Tắk Oa - cách gọi của đồng bào Ca Dong về một dòng sông nhỏ chảy qua xã Trà Tân, thành phố Đà Nẵng ngày nay. Từ mảnh đất lịch sử này, các đồng chí lãnh đạo tiền bối như Võ Chí Công, Chu Huy Mân, Võ Thứ, Nguyễn Xuân Nhĩ… đã cùng bao cán bộ, chiến sĩ kiên cường bám trụ. Giữa bom đạn ác liệt và muôn vàn thiếu thốn nơi rừng sâu, từ những mái lán đơn sơ, nhiều quyết sách quan trọng đã được hình thành, chỉ đạo sát sao phong trào cách mạng khắp các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.

Nước Oa được thiên nhiên ưu ái ban cho địa thế “núi nối núi, sông đan sông” hiểm yếu. Phía trước có sông Nước Oa, sông Trường hòa vào sông Tranh tạo thành tuyến phòng thủ tự nhiên; phía Tây Nam có dãy Hòn Bà sừng sững như vọng gác. Dưới những tán rừng già khép kín là hệ thống đường mòn bí mật giúp cơ quan đầu não âm thầm hoạt động. Để giữ bí mật tuyệt đối, quân và dân nơi đây luôn nằm lòng kỷ luật sống còn: “Đi không dấu, nấu không khói, nói không to, ho không tiếng”. Từ vị trí chiến lược này, các chỉ thị nhanh chóng tỏa đi các hướng đồng bằng và Tây Nguyên như những mạch máu âm thầm giữa đại ngàn. Nhưng điểm tựa vững chắc nhất của căn cứ Khu V chính là lòng dân. Đồng bào các dân tộc nơi đây đã gùi từng gùi lúa, sẻ nửa nắm muối, giữ vững tuyến giao liên để che chở cách mạng. Vì thế Nước Oa đã trở thành mái nhà chung của nghĩa tình quân dân gian khổ có nhau.

Đặc biệt, sau chiến thắng Đắk Tô - Tân Cảnh (1972) làm lung lay chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, cơ quan đầu não Khu V từ Nước Y chuyển về Nước Oa (mật danh A13) vào đầu năm Ngay cả khi Hiệp định Paris bị chính quyền Sài Gòn vi phạm, Nước Oa vẫn đứng vững trong vai trò trung tâm chỉ đạo. Tháng 8 năm 1973, tại đây, đồng chí Võ Chí Công đã triệu tập Hội nghị Khu ủy nhằm quán triệt Nghị quyết Trung ương 21, quyết tâm đánh bại kế hoạch lấn chiếm của địch, tạo thế và lực cho giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến giành thắng lợi hoàn toàn.

*      * 

*

 Tôi vẫn nhớ như in buổi sáng tháng Sáu năm 2013 - ngày tôi cùng đồng nghiệp chính thức đặt chân đến Khu Di tích lịch sử cách mạng Trung Trung Bộ - Nước Oa nhận nhiệm vụ. Khi ấy, tôi đến với Bắc Trà My bằng tâm thế của một người trẻ, mang theo bao háo hức, kỳ vọng nhưng cũng không tránh khỏi những bỡ ngỡ trước một vùng đất còn nhiều xa lạ. Nước Oa đón tôi bằng vẻ trầm mặc của đại ngàn. Trước những dãy núi nối tiếp nhau đến tận chân trời, giữa không gian mênh mông của rừng già và tiếng gió thổi qua các tán cây, tôi chợt thấy mình thật nhỏ bé. Sự tĩnh lặng của núi rừng lúc đầu khiến tôi có chút lạc lõng, nhưng cũng chính sự tĩnh lặng ấy đã níu chân tôi ở lại để lắng nghe và cảm nhận sâu hơn nhịp sống của vùng đất này.

Rồi từng ngày trôi qua, tôi dần quen với cuộc sống nơi đây; quen với tiếng suối róc rách vọng lên từ những khe suối, với những buổi chiều mây trắng chầm chậm tràn xuống sườn núi, với mùi hương của đất rừng sau mỗi cơn mưa và với sự chân chất, hiền hòa của những con người sống giữa đại ngàn. Thời gian lặng lẽ vun đắp một mối gắn bó. Những con đường nhỏ quanh co, những triền núi xanh thẳm, những dòng sông miệt mài chảy qua năm tháng dần trở thành một phần ký ức của tôi, lưu giữ biết bao câu chuyện và kỷ niệm của tuổi trẻ nơi miền sơn cước.

Nhớ lại những ngày đầu nhận nhiệm vụ tại Ban Quản lý Khu di tích lịch sử cách mạng Trung Trung Bộ - Nước Oa, ký ức trong tôi như lớp sương mỏng giữa đại ngàn, chỉ cần chạm khẽ là hiện về rõ nét. Trong rất nhiều kỷ niệm của những năm tháng ấy, sâu đậm hơn cả vẫn là chuyến đi tìm lá nón để phục dựng những mái nhà di tích đã hư hỏng theo thời gian.

Khi ấy, tôi vẫn còn là người mới, chưa quen với từng con đường, con suối hay những cánh rừng bạt ngàn của Bắc Trà My. Một buổi sáng, tại Nhà trưng bày bổ sung di tích thuộc Khu Căn cứ Bộ Tư lệnh Quân khu V - nơi Ban Quản lý tạm làm việc, bà Y Mai - Giám đốc Ban Quản lý Khu di tích, chủ trì cuộc họp bàn phương án tu bổ các hạng mục xuống cấp. Nhiều mái lá đã mục nát sau năm tháng mưa nắng, cần được thay mới để giữ nguyên dáng vẻ của khu căn cứ năm xưa. Quy định được đưa ra nghe thật đơn giản: tìm lá nón về lợp lại các nhà di tích. Nhưng thực tế, đó lại là một hành trình không hề dễ dàng. Bởi giữa thời buổi ấy, tìm được những tàu lá nón đủ đẹp, đủ chắc để phục dựng những mái nhà ở vùng đất có khí hậu nắng mưa khắc nghiệt là chuyện không đơn giản.

Lúc đó tôi phụ trách công tác tham mưu trùng tu, phục dựng và anh Đỗ Văn Thạch phụ trách kỹ thuật, đảm nhận công tác sửa chữa của Ban Quản lý Khu di tích được giao nhiệm vụ vào thôn 7, vận động và nhờ bà con nơi đây giúp tìm, khai thác những tàu lá nón đủ tiêu chuẩn để phục dựng các mái nhà di tích. Nhưng rừng đã không còn như trước. Những vạt lá nón từng mọc dày trong ký ức của người dân nay thưa vắng dần, nhường chỗ cho những cánh rừng keo, rừng cao su. Vì thế, việc tìm được nguồn lá phù hợp đã khó, hành trình đưa chúng về khu di tích lại càng gian nan hơn.

Sau nhiều lần bàn bạc, anh Nguyễn Tấn Vinh - thôn trưởng thôn 7, xã Trà Tân nhận lời đứng ra giúp đỡ. Cùng với chính quyền địa phương, chúng tôi lựa chọn được mười người thông thuộc đường rừng, có sức khỏe và kinh nghiệm để vào rừng lấy lá nón. Họ sẽ phải vượt qua hàng chục cây số đèo dốc, gùi những bó lá nặng trên lưng đưa về phục dựng lại những mái nhà của căn cứ năm xưa.

Quả đúng như những gì mọi người đã nói trước đó, con đường vào rừng hiện ra hun hút, dốc dựng và gập ghềnh, như muốn thử thách từng bước chân người đi. Tôi theo đoàn chủ yếu để thỏa sự tò mò của một người mới đến với núi rừng Bắc Trà My hơn là để giúp được việc gì đáng kể. Anh Vinh đi đầu. Trên tay anh luôn cầm một cây mác để phát lối và một cây gậy nhỏ ngang ngực để dò đường. Vừa bước, anh vừa nhắc mọi người giữ khoảng cách và cẩn thận quan sát. Anh hiểu hơn ai hết những hiểm nguy của rừng già: phía trước có thể là thú rừng, là những con rắn độc ẩn mình dưới bụi cây rậm rạp; còn dưới chân là vô số vắt rừng đang ngóc đầu trên lớp lá mục, chỉ chờ người đi qua để bám lấy. Để xua bớt sự mệt nhọc, thỉnh thoảng anh lại kể vài câu chuyện vui khiến cả đoàn bật cười. Chúng tôi phải đi liên tục, hầu như không dám nghỉ, bởi ai cũng lo những cơn mưa dông bất ngờ đổ xuống hoặc trời tối ập đến khi vẫn còn mắc kẹt đâu đó giữa rừng sâu.

Nhà làm việc đồng chí Võ Thứ, một trong những căn nhà tại Khu Di tích Nước Oa.

Trước khi phát lối bước vào cánh rừng  già  thăm  thẳm,  anh  Vinh  cẩn  được lợp lại bằng lá nón thận dặn chúng tôi những luật tục mà người đi rừng vẫn truyền cho nhau từ đời này sang đời khác: thấy điều lạ thì không buông lời quở trách, không nói gở, không la hét giữa rừng sâu, không tùy tiện mang những vật vô chủ về nhà và tuyệt đối không tách đoàn đi riêng. Anh còn chỉ cho tôi cách chống vắt bằng việc thoa nước muối đặc quanh ống quần... Thế nhưng, khi cả đoàn trở ra khỏi cửa rừng, hầu như không ai tránh khỏi những vết vắt cắn còn rớm máu, âm ỉ ngứa trên chân tay. Những vết thương nhỏ bé ấy chẳng đáng là bao so với hành trình đã đi qua, nhưng với tôi, chúng giống như những “dấu triện” âm thầm của rừng già, một lời chào đặc biệt mà núi rừng dành cho những người khách lần đầu bước vào thế giới sâu thẳm và bí ẩn của mình.

Những chuyến đi ấy thấm đẫm mồ hôi và không ít nhọc nhằn, nhưng đổi lại là một cảm giác ấm áp, tự hào khó diễn tả thành lời. Có lẽ đó là niềm vui khi biết rằng những bó lá nón được gùi ra từ rừng sâu sẽ góp phần phục dựng những mái nhà di tích, gìn giữ một phần ký ức của căn cứ Khu V cho hôm nay và mai sau. Cũng từ những bước chân băng rừng, vượt dốc ấy, tôi hiểu thêm phần nào những gian khổ mà lớp lớp cán bộ, chiến sĩ năm xưa đã trải qua. Giữa núi non trùng điệp và điều kiện thiếu thốn đủ bề, họ đã sống, làm việc và kiên cường bám trụ để giữ vững căn cứ cách mạng.

Sau mười năm gắn bó với mảnh đất này, tôi rời Bắc Trà My, trở về miền xuôi nhận một công việc mới, cũng là để được ở gần gia đình hơn. Ngày chia tay Nước Oa, trong lòng tôi ngổn ngang những cảm xúc khó gọi thành tên. Ngoái nhìn qua ô cửa xe, con đường rừng quen thuộc mờ dần trong màn mưa chiều bảng lảng. Tôi hiểu rằng, khi đã trở về với nhịp sống nơi phố thị, cuốn vào vòng quay của công việc, cơm áo và những lo toan thường nhật, cơ hội trở lại chốn này sẽ ít đi.

Vậy mà hôm nay, trong một chuyến công tác, tôi lại có dịp quay về Nước Oa. Đường lên Trà My - quốc lộ 40B, đã được mở rộng, khang trang và thuận lợi hơn; cầu Sông Trường và cầu Nước Oa được xây mới, nối liền đôi bờ, không còn nỗi lo cách trở mỗi mùa mưa lũ. Dấu vết của một miền sơn cước heo hút năm nào dường như đã lùi xa, nhường chỗ cho diện mạo mới đang từng ngày thêm khởi sắc.

Chỉ có Khu di tích lịch sử cách mạng Trung Trung Bộ - Nước Oa vẫn ở đó, nép mình giữa màu xanh của núi rừng, lặng lẽ và trầm mặc. Bước chân trên những lối đi quen thuộc, ký ức của những năm tháng tuổi trẻ bỗng ùa về nguyên vẹn. Và trong khoảnh khắc ấy, tôi chợt nhận ra rằng có những nơi chốn không chỉ là một địa danh trên bản đồ, mà đã trở thành một phần của đời người. Dẫu thời gian có đi qua, dẫu có cách xa bao lâu, vẫn âm thầm hiện hữu trong ký ức, như một miền thương nhớ không bao giờ cũ. Tôi đứng giữa màu xanh của đại ngàn, lặng nhìn Nước Oa như gặp lại một phần tuổi trẻ của chính mình. Để rồi nhận ra rằng có những vùng đất, dù đã rời xa, vẫn âm thầm neo giữ một góc tâm hồn mình và mỗi lần trở lại đều đánh thức những ký ức, mang đến cảm giác thân thuộc như chưa từng chia xa.

Khi gặp lại chị Hồ Thị Xinh - Phó giám đốc phụ trách Trung tâm cung ứng dịch vụ công xã Trà Tân và chị Hoàng Thị Anh Đào - hướng dẫn viên tại Khu di tích cũng là đồng nghiệp cũ từng gắn bó với tôi trong những năm tháng ở Nước Oa, tôi như được nối lại một sợi dây ký ức ngỡ đã phai mờ. Qua câu chuyện chậm rãi, thân tình của hai chị, tôi mới hay nơi đây đã có nhiều đổi thay. Những đồng nghiệp năm nào, người đã chuyển công tác, người nghỉ hưu, người vẫn lặng lẽ ở lại với khu di tích này. Dẫu có những đổi thay về con người, nhưng tâm huyết gìn giữ và phát huy giá trị lịch sử của khu di tích vẫn được tiếp nối. Công tác bảo tồn, tôn tạo, phục dựng các hạng mục ngày càng được thực hiện bài bản, góp phần lưu giữ những ký ức hào hùng của một thời kháng chiến cho các thế hệ mai sau.

Vào những ngày hè, từng đoàn xe lại nối nhau tìm về Khu di tích Nước Oa. Họ đến không chỉ để tham quan, tìm hiểu về căn cứ địa cách mạng Khu V một thời, mà còn để thực hiện hành trình về nguồn, tri ân những thế hệ đi trước và bồi đắp tình yêu quê hương, đất nước. Nơi đây thường diễn ra các lễ kết nạp Đội, kết nạp Đoàn, những buổi sinh hoạt chuyên đề “Tự hào truyền thống”, các cuộc thi kể chuyện về Bác Hồ cùng nhiều hoạt động giáo dục lịch sử ý nghĩa khác.

Nhiều người tìm đến Nước Oa không đơn thuần để ngắm nhìn những công trình phục dựng hay những hiện vật còn lưu lại, mà để hình dung rõ hơn về một thời kỳ lịch sử đầy gian khó; để hiểu rằng giữa núi rừng thâm u này đã từng có những con người sống, chiến đấu và đưa ra những quyết sách quan trọng cho chiến trường Khu V trong những năm tháng kháng chiến ác liệt.

Giữa dòng người tìm về nguồn cội, Nước Oa vẫn lặng lẽ kể câu chuyện của riêng mình. Những mái lán phục dựng dưới tán rừng, những con đường mòn len giữa đại ngàn, những tấm bia ghi dấu sự kiện lịch sử như những chứng nhân âm thầm của một thời khói lửa. Chính vẻ bình dị ấy khiến mỗi người khi đặt chân đến đây càng thấm thía hơn giá trị của hòa bình, độc lập được đánh đổi bằng biết bao hy sinh của các thế hệ cha anh.

Ít ai biết rằng, trước khi được phục dựng, Nước Oa đã có nhiều năm chìm trong sự quên lãng giữa rừng già. Đường mòn bị dây leo phủ kín, những hầm chữ A chỉ còn lại những hố sâu đầy lá mục. Nhưng dưới lớp rêu phong ấy, dấu tích của căn cứ Khu V vẫn bền bỉ tồn tại. Với quyết tâm của địa phương, Quân khu V và các cơ quan liên quan, công cuộc phục dựng được triển khai giữa muôn vàn khó khăn. Từng mái lá, từng căn nhà sàn được dựng lại bằng sự trân trọng đối với lịch sử, như thể mỗi người đều đang góp sức chăm nom một ngôi nhà chung của ký ức.

Trong quần thể di tích hôm nay vẫn còn đó ngôi nhà làm việc của Đại tướng Chu Huy Mân, nhà làm việc của đồng chí Võ Thứ, nhà làm việc của đồng chí Võ Chí Công. Những nếp nhà đơn sơ giữa rừng sâu không chỉ gợi nhớ về cuộc sống gian khổ của các nhà lãnh đạo khu V mà còn nhắc người đến thăm về những quyết sách quan trọng từng được hình thành từ nơi đây, góp phần làm nên thắng lợi của cách mạng miền Trung - Tây Nguyên.

Khi có dịp nhìn lại toàn cảnh Nước Oa từ một góc nhìn khác, tôi càng hiểu vì sao nơi đây được chọn làm căn cứ của Khu V trong những năm tháng kháng chiến. Đó là sự hội tụ của địa thế hiểm yếu, những tuyến giao liên bí mật và hơn hết là lòng dân son sắt với cách mạng.

Mười năm gắn bó với Nước Oa, tôi hiểu rằng giữ gìn di tích không chỉ là bảo tồn những công trình vật chất, mà còn là gìn giữ ký ức. Mỗi mái nhà sàn, mỗi con đường mòn,  mỗi tấm bia tưởng niệm đều lưu giữ một câu chuyện về lòng quả cảm và khát vọng độc lập. Và khi nhìn những đoàn học sinh, đoàn viên thành kính dâng hương trước bia di tích, tôi tin rằng lịch sử nơi đây vẫn đang được truyền lại một cách bền bỉ, để những ký ức của Nước Oa tiếp tục sống trong các thế hệ mai sau.

T.N