Địa danh “Đà Nẵng”

06.07.2026
Vũ Hùng

Địa danh “Đà Nẵng”

Hàn môn trong bản đồ Thừa tuyên Quảng Nam năm 1490

Thừa tuyên Quảng Nam thành lập  năm  1471.  Theo  bản  đồ Hồng  Đức  năm  thứ  21-  năm 1490, lần đầu tiên vùng đất Đà Nẵng ghi là Hàn môn - 翰門1.

Sáu mươi lăm năm sau, địa danh Hàn môn được ghi là “cửa biển Đà Nẵng” trong tác phẩm Ô châu cận lục, biên soạn năm 1555: “Đền thờ Tùng Giang: Đền thờ tại  cửa  biển Tư Khách, huyện Tư Vinh và tại cửa biển Đà Nẵng xứ Quảng Nam”2. Ngôi đền tại cửa biển này thờ Phi vận tướng quân Nguyễn Phục, thời vua Lê Thánh Tông đánh Champa năm 1471. Tùng Giang là hiệu của Nguyễn Phục. Tự dạng chữ Nho của “cửa biển Đà Nẵng” trong đoạn văn trên là “沱 㶞海門"3- Đà Nẵng hải môn. Như vậy, trước Ô châu cận lục, cùng với địa danh Hàn, tên gọi Đà Nẵng cũng đã được lưu truyền trong dân gian.

Ngày xưa, người Hoa đi buôn bằng đường biển về phương Nam đến xứ Quảng Nam trông thấy hòn đảo giống hình con hến - đảo Sơn Trà, địa danh tại cửa biển này gọi là Hiện  Cảng  (蜆港)1. Tuy  nhiên,  địa danh này chỉ sử dụng trong một bộ phận người Hoa, không được được phổ biến rộng rãi.

Đầu thế kỷ 17, các giáo sĩ đã ghi vùng cửa biển  này  là  Turon.  Giáo sĩ Christoforo Borri, người Ý, đến Đàng Trong năm 1618, trong tác phẩm của mình in năm 1622, ghi: “Hải cảng đẹp nhất, nơi tất cả người ngoại quốc đều tới và cũng là nơi có hội chợ danh tiếng chính là hải cảng thuộc tỉnh Quảng Nam. Người ta cập bến cảng bằng hai cửa biển: Một gọi là Turon (Đà Nẵng) và một gọi là Pulluciambello (Hội An)”2. Giáo sĩ Alexandre De Rhodes từng sống ở Quảng Nam và Đàng Trong đầu thế kỷ 17, một bản đồ trong cuốn Các cuộc hành trình và truyền giáo khác nhau của Cha Alexandre de Rhodes ở Trung Hoa và các vương quốc Viễn Đông khác của ông, xuất bản năm 16533, cũng ghi Đà Nẵng là Turon.

Năm 1888, thời vua Thành Thái, Đà Nẵng trở thành nhượng địa của Pháp với tên gọi Tourane. Tên gọi này được sử dụng chính thức trong suốt thời Pháp thuộc cho đến năm 1950. Trong Cách mạng tháng Tám, Tourane đổi thành thành phố Thái Phiên1. Đến năm 1950, Pháp trả lại thành phố Tourane cho Việt Nam và được gọi theo tên cũ là Đà Nẵng cho đến ngày nay.

Các nhà nghiên cứu đều cho rằng Đà Nẵng có nguồn gốc từ tiếng của người Chàm bản thổ và nghĩa của địa danh này được lý giải có nhiều điểm giống nhau: Đà Nẵng bắt nguồn từ tiếng Chàm Hang Danak, là bờ biển buôn bán; Danak hay Darak có nghĩa là sông lớn2. Dải đất bên tả ngạn sông Hàn đối diện với bán đảo Tiên Sa, trong thịnh thời của người Chàm ngự trị châu Amaravati, có tên là Hang Danak. Hang có nghĩa dải đất do biển rút cạn để lộ ra; Danak có nghĩa là cửa sông tiếp giáp biển3. Đà Nẵng có thể là tên ghép giữa tiếng Chăm  và  Kơtu,  Bahnar  có  nghĩa  là  sông lớn4. Trong tiếng Chàm, Hang Daknan là những từ ngày nay hầu như không còn sử dụng do đã tách xa môi trường sinh sống gắn với biển. Hang có nghĩa là bờ, Daknan là vùng nước rộng lớn. Hang Daknan là bờ nước rộng lớn. Daknan biến âm thành Đà Nẵng5.

Mặc dù cũng cho rằng địa danh Đà Nẵng có nguồn gốc Chàm, nhưng có nhà nghiên cứu giải nghĩa địa danh này theo ký âm chữ Nho: Đà (沱) là sông nhánh, Nẵng (曩) là ngày xưa, Đà Nẵng (沱 曩) là “vùng sông nước từ xưa”, người Hoa ở Hải Nam phát âm 沱 曩 là Tu Nan6; Đà (沱) là nước từ sông chảy ra, Nẵng (浪) là dòng chảy của nước, người miền Nam Trung Hoa phát âm 沱浪 là Tu

Rang7; người phương Tây ký âm bằng ký tự La tinh Tu Nan, Tu Rang thành Turon, Touron, sau này người Pháp phiên âm là Tourane.

Đà Nẵng được giải nghĩa qua tự dạng chữ Nho không phản ảnh đầy đủ từ gốc của tiếng Chàm. Trải qua hơn 5  thế  kỷ  rưỡi,  kể từ nửa cuối thế kỷ 15 cho đến nay, vùng đất cửa biển này được ghi chép nhiều tên gọi khác nhau: Hàn Môn, Đà Nẵng, Hiện Cảng, Turon, Tourane và Thái Phiên, nhưng phổ biến nhất cho đến ngày nay là Hàn và Đà Nẵng. Các danh xưng Hàn và Đà Nẵng đều có chung nguồn gốc.

Cho đến nay địa danh Hàn  và Đà Nẵng chưa phát hiện trên bia ký Champa. Trong tiếng Chàm Akhar thrah,  Hang   là  bờ,  bìa,  bực1; Danak có 2 tự dạng:    - biển, đại dương, cái giỏ, cái thúng; (còn    được    ký    âm    là    Darak)                  là biển, biển khơi, chợ2, sắp xếp3. Darak Danak gần nghĩa với từ cổ Daknan. Tiếng Chàm và tiếng Raglai cùng ngôn ngữ Malayo - Polynesien. Trong tiếng Raglai có từ Danang, khá gần âm và nghĩa với Danak/Daknan. Nhưng người Raglai không gắn với biển, Danang đã mang nghĩa gắn với không gian sinh sống vùng rừng núi, nghĩa là sông nguồn, nguồn.

Hang Danak/Daknan có 3 âm tiết, quá trình giao tiếp của  người  Việt đã tách ra thành Hang Daknan/ Danak. Hang biến âm thành Hàn (người Quảng  Nam  có  thành  ngữ “Ra Hàn, xuống phố” - Ra Đà Nẵng, xuống Hội An), Daknan/ Danak biến âm thành Đà Nẵng, nhưng cả hai địa danh đều chỉ một vùng bờ tại cửa sông giáp biển, rất phù hợp với thực địa. Hàn là tên chợ bên bờ (Hang) mà từ khởi thủy cho đến nay luôn ở gần cửa sông, có bến để thuyền cặp cung cấp hàng hóa, đồng thời cũng là tên của khúc sông tiếp giáp biển. Trong các bài cúng tế, xứ đất là những địa danh cổ của hai bờ sông Hàn, trong đó xứ đất Đà Nẵng1 (Daknan/Danak) chủ yếu là các phường  Hải  Châu  I và Hải Châu II cũ, nay là phường Hải Châu, trong đó có chợ Hàn bên bờ sông một thời trên bến dưới thuyền.

Vùng đất cửa biển cửa sông này, trước khi thuộc về Đại Việt, là địa bàn người Chàm sinh sống mà ngày nay còn lưu nhiều di tích, trong đó có di tích đền tháp và giếng Chàm ở cửa sông Cu Đê và cửa sông Hàn. Từ thế kỷ 15 trở về trước, khi rừng nguyên sinh chưa khai phá, nguồn nước của hai con sông lớn này đầy ắp, hạ lưu cửa sông hoang sơ trải rộng hòa vào vịnh nước mênh mông. Không gian của Hang Danak/ Daknan là tên gọi người Chàm xưa chỉ vùng bờ biển rộng lớn này, nơi cửa sông Hàn đổ vào vịnh nước mở ra biển cả bao la.

Sau sự kiện năm 1471, những lớp người Việt lần lượt đến vùng đất mới này. Những cộng đồng sống cận cư, cộng cư với người bản địa, trong đó có những cư dân mới hòa huyết với cư dân bản địa, không ít tên đất, tên sông núi được gọi theo tiếng của người Chàm đã có từ trước. Trong quá trình chung sống và hòa huyết, có những địa danh của người bản địa được lưu truyền lại cho các thế hệ kế tiếp. Nếu không như vậy, không thể giải thích những nơi từng là địa bàn người Chàm sinh sống và những nơi có cộng đồng người Việt gốc Chàm sinh sống hiện nay, bên cạnh đền tháp hoặc dấu vết đền tháp và giếng bốn trụ hay giếng đá cổ, vẫn còn lưu những địa danh gốc Chàm. Những địa danh này là một thành tố của văn hóa cũng “hòa huyết” và biến đổi, từ tiếng Chàm đến ngữ nghĩa Việt, Hán và Latinh của người phương Tây, có sức sống bền bỉ cho đến tận hôm nay như trường hợp địa danh Đà Nẵng.

V.H

Chú thích: 

1 Bửu Cẩm, Đỗ Văn Anh, Phạm Huy Thúy, Tạ Quang Phát và Trưởng Bửu Lâm, Hồng Đức bản đồ, Tủ sách Viện Khảo cổ, Bộ Quốc gia Giáo dục, Sài Gòn, 1962, trang 48.

2. Dương Văn An, Ô châu cận lục, Nxb Thuận Hóa - Huế, 2001, trang 97.

3. Tiến sĩ Sùng nham hầu Dương Văn An, Ô châu cận lục, Nguyễn Khắc Thuần dịch, hiệu đính và chú giải, Nxb Giáo dục Việt Nam, năm 2009, trang 316.

4. Võ Văn Dật, Lịch sử Đà Nẵng (1306 – 1975), Nxb Nam Việt, 2007, trang 20-24.

6. Christoforo Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2016, trang 91.

7. Alexei Volkov, Đại học Quốc gia Thanh Hoa, Tân Trúc (Hsinchu), Đài Loan,“Về hai bản đồ Việt Nam trong sách của Alexandre De Rhodes”, Võ Xuân Quế dịch, https://vietvwordpress. com/2021/03/07/ve-hai-ban-do-viet-nam- trong-sach-cua-alexandre-de-rhodes/?hl=vi-VN.

8. Chí sĩ Thái Phiên, sinh năm 1882, quê làng Nghi An, phường Hòa Phát, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng (cũ). Ông là nhà hoạt động cách mạng cùng với Trần Cao Vân và vua Duy Tân lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống Pháp tại Trung Kỳ Việt Nam, do Việt Nam Quang Phục Hội chủ xướng. Ông bị Pháp bắt và xử chém vào ngày 17 tháng 5 năm 1916.

9. Võ Văn Dật, Lịch sử Đà Nẵng (1306 - 1975), sđd, trang

10. Nguyễn Sinh Duy, Quảng Nam và những vấn đề sử học, Nxb Văn hóa - Thông tin, 2005, trang

11. Sakaya, Từ điển địa danh đối chiếu, Việt - các dân tộc thiểu số miền Trung - Trường Sơn - Tây Nguyên - Nam bộ, Nxb Tri Thức, 2020, trang 54.

12. Jaya Thiên, “Địa danh Đà Nẵng gốc Chăm”, https://www.facebook.com/story.php?story_ fbid=1921699081339826&id=100004 992572449&mibextid=xfxF2i&rdid =e71ouRpVBSIed232

13. Võ Văn Dật, Lịch sử Đà Nẵng (1306 – 1975), sđd, trang 18, 30, 31,

14. Nguyễn Sinh Duy, Quảng Nam và những vấn đề sử học, sđd, trang 21.

15. Tự điển Cham - Pháp, Étienne Aymonier - Nguyên Khâm sứ Danh dự, Cựu Giám đốc Trường Thuộc  địa, Antoine Cabaton - Nhân viên Thư viện Quốc gia, Cựu thành viên Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO), Nhà in Quốc gia, Paris, Nxb. Ernest Leroux, số 28 phố Bonaparte, năm 1906, trang 501. - Tự điển Việt - Cham - Inưlang Piêt - Chăm, Trung tâm nghiên cứu Việt Nam - Đông Nam Á, Trường đại  học  Khoa  học  Xã  hội  và  Nhân  văn  thành  phố Hồ Chí Minh, Bùi Khánh Thế chủ biên, Nxb. Khoa học xã hội, 1996, trang 120.

16. Tự điển Cham - Pháp, sđd, trang - Tự điển Việt - Chăm - Inưlang Piêt - Chăm, sđd, trang  26.

17. Tự điển Cham - Pháp, sđd, trang 215.

18. Xứ Bà Thân từ cầu sắt bên cầu Trần Thị Lý hiện nay đến chân núi Sơn Trà. Xứ Bàu Lát thuộc phường Thạc Gián cũ, nay là một phần của phường Thanh Khê. Xứ Rẫy Cu thuộc các phường Bình Thuận và Hòa Thuận cũ, nay là một phần của phường Hòa Cường. Xứ Giếng Bộng thuộc phường Nại Hiên Tây- phường Bình Hiên cũ, nay là một phần của phường Hải Châu. Xứ Trèm Trẹm thuộc phường Thạch Thang cũ, nay là một phần của phường Hải Châu.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 1. Alexei Volkov, Đại học Quốc gia Thanh Hoa, Tân Trúc (Hsinchu), Đài Loan,“Về hai bản đồ Việt Nam trong sách của Alexandre De Rhodes”, Võ Xuân Quế dịch, https:// vietvwordpress.com/2021/03/07/ve-hai-ban-do-viet-nam-trong-sach-cua- alexandre-de-rhodes/?hl=vi-VN

2. Bửu Cẩm, Đỗ Văn Anh, Phạm Huy Thúy, Tạ Quang Phát và Trưởng Bửu Lâm, Hồng Đức bản đồ, Tủ sách Viện Khảo cổ, Bộ Quốc gia Giáo dục, Sài Gòn,

3. Cristophoro Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621, Hồng Nhuệ - Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nhị dịch, chú thích, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2016.

4. Dương Văn An, Ô Châu cận lục, Nxb Thuận Hóa, Huế,

5. Ngô Đức Thọ, Hoàng Văn Lâu (dịch), Đại Việt sử ký toàn thư, bản in nội các quan bản, mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), Nxb, Văn học và Đông Á, (Đông Á tái bản lần thứ nhất), Hà Nội, 2017.

6. Thạch Phương, Nguyễn Đình An (Chủ biên) Địa chí Quảng Nam - Đà Nẵng, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2010.

7. Gustave Dumoutier, Nghiên cứu bản đồ các cửa sông, hải cảng Việt Nam thế kỷ XV, Nguyễn Văn Trường dịch, Nxb Hà Nội, 2020

8. Hồ Tấn Tuấn, Quá trình hình thành và phát triển của làng nghề đá Non Nước”,https:// baotangdanang.vn/qua-trinh-hinh-thanh-va-phat-trien-cua-lang-nghe-da-non- nuoc.html

9. Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, tập 1, Nxb Khoa Học xã Hội, Hà Nội, (Viện Sử học dịch), 1977.

10. Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn, dinh Quảng Nam, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh,

11. Nguyễn Q. Thắng, Quảng Nam, đất nước và nhân vật, Nxb Văn hóa - Thông tin,

12. Nguyễn Sinh Duy, Quảng Nam và những vấn đề sử học, Nxb Văn hóa - Thông tin, 2005.

13. Phan Du, Quảng Nam qua các thời đại, quyển thượng, Ban Tu thư thi hội,

14. Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, Nxb Văn Học,

15. Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Trung tâm nghiên cứu dân số và phát triển, Viện Sử học, Di dân của người Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX, TS Đặng Chu chủ biên, Hà Nội, 1994.

16. Inưlang Piêt - Chăm, Trung tâm nghiên cứu Việt Nam - Đông Nam Á, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, Bùi Khánh Thế (chủ biên), Từ điển Việt – Cham, Nxb Khoa học xã hội, Étienne Aymonier - Nguyên Khâm sứ Danh dự, Cựu Giám đốc Trường Thuộc địa, Antoine Cabaton - Nhân viên Thư viện Quốc gia, Cựu thành viên Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO), Tự điển Cham - Pháp, Nhà in Quốc gia, Paris, Nxb. Ernest Leroux, số 28 phố Bonaparte, năm 1906. (Dictionnaire Cam-Français par Étienne Aymonier Résident Supérieur Honoraire, Ancien Directeur de l

17. 'École Coloniale - Antoine Cabaton Attaché à la Bibliothèque Nationale, Ancien Membre de l'École Française d'Extrême-Orient, Paris, Imprimerie Nationale. Ernest Leroux, Éditeur, Rue Bonaparte, 28. MDCCCCVI.

18. Nguyễn Trãi, Ức Trai di tập - Dư địa chí, Phan Huy Tiếp dịch, Hà Văn Tấn hiệu đính và chú thích, Nxb Sử học, Hà Nội, 1960.

19. Võ Văn Dật, Lịch sử Đà Nẵng (1306 - 1975), Nxb Nam Việt,