Mùa xuân phía trước…

22.01.2026
Nguyễn Thị Thu Sương

Mùa xuân phía trước…

Ăn miếng bánh, uống chút trà/ Cầm tay và muốn là “nhà” của nhau… Khi dự Lễ hội Hương trà xưa - Vị bánh cổ, tôi chợt nhớ hai câu thơ ấy của Lai Thượng Hưng, rồi nhớ về những ngày sơ tán lên Minh Hóa, một xã miền tây Quảng Bình. Khi ấy còn nhỏ, tôi không biết người dân nơi đây thuộc dân tộc nào, chỉ biết tiếng nói của họ khác người Kinh và thức ăn thường ngày là bột ngô được giã mịn, hông chín. Nhà nào cũng có một mảnh vườn chè trước sân.

Mỗi lần tiếp nước cho bộ đội hành quân qua làng, các cô chú thanh niên thường cất tiếng hát: Ai lên Minh Hóa quê mình/ Chè xanh, mật ngọt đượm tình quê hương. Nhưng điều khắc sâu trong ký ức tôi lại là âm thanh chày cối mỗi buổi sớm. Cả làng cùng giã, nên âm thanh ấy vừa rộn ràng vừa ấm áp. Chiếc giường ngủ rung nhẹ theo nhịp chày nên dù là cô bé mê ngủ, tôi vẫn chui ra khỏi màn, ngồi ở bậu cửa, lặng nhìn cảnh giã chày đôi của mẹ con bà chủ nhà trong ánh bình minh chớm nắng.

Sau khi bắc chõ bồi lên bếp, cô gái chủ nhà ra vườn cắt một nắm chè đem nấu. Chỉ mươi phút sau, mùi thơm nhẹ của nước chè đã lan khắp nhà. Bồi vừa chín, được dỡ ra vàng thơm như chiếc bánh ga-tô. Ăn lát bồi, uống bát nước chè xong, ông chủ nhà lại đi làm. Nghe đâu vì hợp tác xã không cho làm riêng lẻ, ông phải lén vào chân lèn trồng thêm sắn, bắp. Tôi cũng được cô chủ nhà cho một lát bồi. Đến giờ vẫn nhớ cái vị thơm, ngọt nhẹ ấy khi vào chiếc bụng đang rỗng như trống, cảm giác y như được ăn bánh ga-tô hòa cùng bản nhạc Happy birthday.

Nhưng niềm vui ấy chỉ có ngày đầu. Mẹ bắt tôi phải từ chối vì chúng tôi có tiêu chuẩn gạo, còn người dân thì đang rất đói. Đôi khi, bên bát nước chè vàng óng, mẹ kể về quê nhà ở Huế. Thuở chưa tập kết, mẹ xuống chợ Đông Ba với gánh chè, quả mít, chuối, thanh trà… Mùa nào thức nấy, chỉ chè là quanh năm.

Sau này ra Bắc học, trở thành một tín đồ trà mạn, tôi mới hiểu: trà không chỉ là thức uống, mà còn là “tín chỉ” của quê hương. Từ ngàn xưa, người Việt đã gắn bó với cây chè: từ chè tươi đến chè sao chế thành trà. Ngày chào đời, bà mụ cắt rốn bằng thanh tre cật được tẩy trùng trong nước chè xanh. Những lúc lao động nặng nhọc, có ly nước chè giải khát. Ngày rời trần thế, chè khô lại được dùng tẩm liệm. Chè hiện diện trong sinh hoạt thường nhật: tắm gội, trị rôm sảy cũng bằng nước chè. Trong đạo hiếu có câu: Đi đâu mà bỏ mẹ già?/ Gối nghiêng ai sửa, tách trà ai dâng?. Hay như Nguyễn Khuyến từng viết: Một ấm trà xanh, một tấm lòng. Trong mọi nghi lễ hiếu, hỉ, tạ ơn đất trời, trà luôn là một trong ba ly không thể thiếu, cùng với tửu và thanh thủy.

Như một cái duyên, khi nhận công tác ở Tam Kỳ, cơ quan tôi nằm trên ngọn đồi phía tây thị xã, xung quanh là những nếp nhà dân, và dĩ nhiên, lại những mảnh vườn chè bên hiên. Ở giữa lòng dân, chỉ cần đi ngang ngõ là đã được bà con ới “Vào uống nước chè đã!”. Sau này chuyển sang quản lý mạng lưới, đi khảo sát nhiều nơi, tôi biết Quảng Nam - Đà Nẵng có nhiều vùng chè ngon như An Bằng (xã Đại Thạnh, huyện Đại Lộc; nay thuộc xã Phú Thuận, TP. Đà Nẵng), Phú Thượng (xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang; nay thuộc phường Hòa Khánh, TP. Đà Nẵng). Chếch về phía tây nam Đà Nẵng, qua dốc Kiền là nông trường chè Quyết Thắng (xã Ba, huyện Đông Giang; nay thuộc xã Sông Vàng, TP. Đà Nẵng). Nằm giữa những dãy núi, khí hậu đặc thù dường như làm cho cây chè nơi đây thơm ngon, đậm vị hơn. Chè Núi Thành, Tiên Phước, Trà My cũng rất nổi tiếng. Đây chính là nguồn nguyên liệu của trà Mai Hạc trứ danh, loại trà ướp hoa nhài được sản xuất tại Tam Kỳ. Ở Hội An còn có xưởng chế biến trà do người Pháp lập ra từ xưa. Chè tươi hay trà xanh, tùy cách dùng, nhưng không thể thiếu trong đời sống.

Bởi vậy, khi nhận được lời mời dự Lễ hội Trà Việt với chủ đề Hương trà xưa - Vị bánh cổ do Hiệp hội Văn hóa Ẩm thực Việt Nam phối hợp với Hiệp hội Văn hóa Ẩm thực Đà Nẵng tổ chức tại Cung Hội nghị quốc tế Furama Đà Nẵng, tôi thật sự háo hức.

Không gian trưng bày tại Furama thật sang trọng, quy tụ nhiều sản phẩm trà tiêu biểu. Bên cạnh các loại trà địa phương, trà nổi tiếng từ Hà Giang, Lạng  Sơn  đến  Lâm  Đồng  đều  hiện diện. Chương trình có nhiều hoạt động đặc sắc: trình diễn nghệ thuật pha trà, hội thảo chuyên đề về phát triển thương hiệu trà Việt. Tôi đã thưởng thức chè An Bằng của Hợp tác xã Nông nghiệp Dịch vụ Đại Thạnh Phát. Chè được hái từ lá già, rửa sạch, phơi héo, giã, ủ, băm hoàn toàn thủ công và sấy theo quy trình nghiêm ngặt, rồi đóng gói với bao bì, nhãn mác, mã vạch đầy đủ. Loại chè này có hàm lượng caffeine thấp, hạn chế mất ngủ, tốt cho tiêu hóa, cân bằng axit dạ dày và có nhiều dược tính, nên được nhiều người ưa chuộng.

Các nghệ nhân chia sẻ cách làm bánh; khách mời vừa ăn bánh, uống trà, vừa chuyện trò. Đúng tinh thần lễ hội: du khách thưởng lãm, kết nối văn hóa, gắn kết cộng đồng và tạo cơ hội cho doanh nghiệp, nghệ nhân giới thiệu sản phẩm đặc trưng vùng miền đến với bạn bè trong nước và quốc tế. Buổi tọa đàm cho thấy trà mang lại nhiều lợi ích: caffeine giúp tỉnh táo, L-theanine giảm stress, tăng khả năng sáng tạo; trà còn hỗ trợ đường ruột, đốt mỡ, làm sạch tế bào chết, giúp trẻ hóa...

Giữa không gian sang trọng của Cung Hội nghị quốc tế Furama, tôi lại nhớ về những ngày ở miền sơn cước. Sau nhịp chày cối rộn rã, trong ngôi nhà tranh vách gỗ tĩnh lặng, ông chủ nhà ăn bánh ngô, uống nước chè sớm rồi lặng lẽ ra đi một mình. Có khi bà chủ nhà ngồi cùng, nhưng ra ngõ chỉ còn bóng ông. Nghĩ đến đó, lòng tôi chợt chùng xuống. Giá như ông không phải lén lút đi làm để kiếm thêm khoai sắn nuôi gia đình, thì cuộc sống hẳn đã đẹp biết bao. Cuộc sống đôi khi thật nghiệt ngã, thấp bé lại được quy về phạm trù vĩ đại để mất đi những điều vô giá mà không bao giờ lấy lại được.

Cũng trong chuỗi hoạt động của Lễ hội Trà Việt, tôi có dịp gặp Đoàn Thị Hằng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Liên hiệp Hợp tác xã Nông sản Thái Nguyên tại Bảo tàng Đồng Đình của nghệ sĩ Đoàn Huy Giao. Nữ doanh nhân trẻ cho biết: Trà Việt Nam hiện đứng trong top 5 thế giới nhưng giá lại rất rẻ. So với Trung Quốc - quốc gia có lịch sử sản xuất và chế biến trà tương đồng, chị cho biết: nếu xét về chè cổ thụ, Việt Nam thậm chí còn sở hữu số lượng nhiều hơn. Thế nhưng, trong khi người trồng chè Trung Quốc có thể sống khá, thậm chí giàu, thì người làm chè ở Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn. Theo Hằng, trả lời được câu hỏi này cũng chính là mở ra con đường cho trà Việt và cho đời sống người trồng chè đi lên.

Để tìm lời giải, Liên hiệp đã dành hai năm rưỡi nghiên cứu thị trường trà tại Mỹ, tập trung vào thói quen tiêu dùng - một bước đi tốn kém nhưng vô cùng quan trọng. Liên hiệp cũng làm việc từng bước với các hợp tác xã, từ đất, trồng trọt đến chế biến... Năm 2021, trà mang thương hiệu Vifarmers (những nông dân Việt Nam) chính thức có mặt tại thị trường Mỹ. Sau đó, bốn hợp tác xã trà Vifarmers tiếp tục nhận được hỗ trợ từ phía Mỹ. Cơ quan Hợp tác Quốc tế Hoa Kỳ phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam hỗ trợ chương trình chuyển đổi số, xây dựng website, đào tạo tiếng Anh, hỗ trợ truyền thông tại Mỹ, kết hợp sản xuất với du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng. Dù sinh sau đẻ muộn, Liên minh Hợp tác xã Trà Thái Nguyên vẫn trở thành một trong mười đơn vị đầu tiên của Việt Nam được nhận gói hỗ trợ này. Kết thúc dự án, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Hoa Kỳ đã mời bảy thành viên sang quay phim, phỏng vấn; sau đó Đại sứ Mỹ trực tiếp đến thăm. Hiện nay, Liên hiệp Hợp tác xã sở hữu 66 ha chè tại Thái Nguyên và 120 ha tại Hà Giang, tập trung vào chế biến sâu từ trồng trọt, chế biến đến xuất khẩu trà.

Hằng cho biết cô chọn lối đi đường ngược chiều: vào thị trường khó nhất. Bởi đó là môi trường buộc mình phải rèn, bởi đó chính là thương hiệu để mở lối cho thị trường rộng như Âu, Mỹ, Trung Đông. Sau hai năm rưỡi nghiên cứu, khi sản xuất, chị chọn thứ phù hợp nhất với đối tác; còn khi định giá, chị chọn mức cao nhất của họ, bởi trà của mình là loại tốt nhất. Đó là cạnh tranh bằng chất lượng.

Sau năm năm có mặt trên kệ siêu thị xứ cờ hoa, phía đối tác Mỹ đã đề nghị tổ chức một chương trình tọa đàm về trà Việt. Hằng đang lên ý tưởng lồng ghép văn hóa Việt vào chương trình: không gian thưởng trà, trà cụ, áo dài, tóc vấn của trà nương... Tất cả những nét văn hóa Việt liên quan đến trà sẽ có mặt tại chương trình. Phục vụ thị hiếu thế giới nhưng không mất đi cái chất riêng của trà Việt, thậm chí, cả tham vọng chuyển sự yêu thích của khách hàng sang trà Việt.

Tôi tin Hằng sẽ vượt qua, sẽ làm được. Tôi tin như thế. Đơn cử như bánh mì và cà phê, hai món ẩm thực được du nhập vào Việt Nam nhưng rồi với sự sáng tạo, khéo léo, người Việt đã vượt lên top đầu. Cà phê Việt Nam với cách thức pha chế đa dạng cũng ngon nhất thế giới. Bánh mì Việt Nam được đánh giá là bánh mì ngon nhất thế giới. Nhiều tiệm bánh mì ở Hội An, lúc nào cũng đông nghịt khách du lịch nước ngoài xếp hàng chờ mua. Những tiệm bánh ngoài biên giới Việt vẫn mang tên Việt và rất đông khách, thậm chí phải xếp hàng chờ đến lượt.

Trà là nghệ thuật của sống chậm. Trà cho con người hiểu thêm nguyên lý chân - thiện - mỹ trong đời sống. Nhấm nháp tách trà ngon giống như nếm trải cuộc đời, có vị đắng, có vị ngọt, đắng chát rồi sẽ qua, ngọt hậu là cái sau cuối.

Ngồi trong ngôi nhà cổ bên triền núi Sơn Trà, tôi lại nghĩ đến một “cặp phạm trù” khác. Khi tìm hiểu mối liên hệ giữa trà và thơ, tôi đã nghĩ nhà thơ Lai Thượng Hưng chắc thuộc tuổi trung niên và ông ở miền Bắc. Bởi theo ý thơ thì từ “nhà” đây là “nhà tôi”, của vợ nói về chồng và chồng nói về vợ. Ở tuổi ấy mới đủ ngấm tình đời, tình trà để có câu thơ duyên như thế, tình như thế. Hóa ra trật lất. Thế rồi tôi nghĩ đến những vùng chè xứ Quảng, nghĩ về thanh niên trẻ Ngô Văn Chi, Chủ tịch Hợp tác xã Nông nghiệp - Dịch vụ Đại Thạnh Phát đã rời phố để trở về nâng vị thế cây chè quê nhà. Cũng là những quá trình thực hiện nghiêm ngặt, minh bạch vì vậy mà được rất nhiều người ưa thích. Và tôi hy vọng với quyết tâm mạnh mẽ Chi sẽ cũng mở thêm những con đường mới...

N.T.T.S

Bài viết khác cùng số

RêuGóc vườn gọi xuânNàng, tôi và Vic...Rubic TếtMưa xuân trên đỉnh bình yênMùa xuân phía trước…Nhịp chiêng xuânTrước thềm năm mớiXuân ở lại cùng ngườiTiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt NamKý ức một người lái đòNgọt ngào dư vị tuổi thơChuyện cây mai làng YênXóm cũChạm nắngLập xuânChờ mùa đông đi quaXuân trôiLãng đãng xuânVá xuânGiấc mơ xuânSoiHôn cuộc đời xanh biếc trái tim vuiMùa xuân đến muộnCây tía tô mùa xuânThăm vườn cà chua chínHoài niệm gió bấcKhi hoa vườn nhà nở sớmGởi tuổi mình xa lắm đã từ lâuXuân sớmMàu cúc nhắc sum vầyGiấc mơ dưới hiên nhà cũMùa xuân ẩn dạngQuê xưa gồng gánh hoa vàngNhư vừa sang xuânVề thôi!Mùng 3 Tết và chaPhía xuân mong manhHỏi quêXuân trởTiếng xuânKhi người thinh lặngĐịnh hình một tháng ChạpCon mãi về nơi ấyTrên đỉnh Tùng LaDự cảm GiêngNguyện cầu trước mùa xuânMùa xuân rất gầnXuân trên miền caoMùa gọi yêu thươngBếp xuânMùa Tết trong timĐà NẵngVẫn tươi rói khúc xuânMai đỏ, mai vàngMàu phốHọa tiết “ngựa rồng” trên bình phong đình làng xứ QuảngChẳng biết trong lòng có những ai...Lạc vào Xứ của HiềnCông chúng văn nghệ qua góc nhìn của Nguyễn Văn XuânSứ thần đất Quảng khai xuân nơi đất kháchVề bài bản hô hát, thể thơ và cách ứng tác của Bài chòi xứ QuảngCon ngựa trong văn hóa ViệtTết thời số hóaĐã thành cổ tích chưa?...Về Thăng Bình nghe đối...Lịch sử nhân loại được chở trên lưng ngựaĐất Quảng với những năm Bính NgọLễ trao tặng Giải thưởng Văn học - Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2021 - 2025Lộc xuânGửi hoa thêu gấmGóc phố quenSắc TếtTình xuânGiữa sương maiPhố biển tôi yêuKhúc hát chiều xuânTuổi ngựa