Về bài bản hô hát, thể thơ và cách ứng tác của Bài chòi xứ Quảng

Biểu diễn bài chòi ở Hội An
Bài chòi vừa hát vừa hô/ Vừa nghe thơ phú vừa chờ hên, xui. Từ trò chơi dân gian mùa xuân của người dân xứ Quảng, Bài chòi đã vượt ra khỏi khuôn khổ một thú vui hội làng để trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Trong nhịp hô, câu hát, lời đối đáp của anh/ chị Hiệu ẩn chứa một thế giới nghệ thuật độc đáo, nơi ngôn từ dân gian được “văn học hóa” thành thi ca, thành diễn ngôn văn hóa. Bài chòi không chỉ là trò chơi dân gian, mà còn là một hình thức sáng tạo ngôn ngữ, âm nhạc, ứng tác đậm tính thẩm mỹ.
Quá trình “văn học hóa” văn bản Bài chòi
Hiện nay việc diễn xướng trò chơi Bài chòi vẫn đang tồn nghi các quan niệm khác nhau về tên gọi: Hô Bài chòi hay ca/hát Bài chòi? Theo các nhà nghiên cứu Bài chòi như Đặng Văn Lung, Phan Ngạn, Tạ Chí Đại Trường thì “… vạch xuất phát ban đầu của hô Bài chòi là kể chuyện theo nguyên mẫu văn vần có âm giai, nhịp điệu. Những người ngồi nghe phụ họa theo lời hô từ các câu chuyện kể bằng các nhịp tay, mà biến thức của nó sau này là bộ sanh (gõ). Ngoài ra tên gọi thông thường của hô Bài chòi là hô thai”1. Nhà nghiên cứu Trương Đình Quang cho biết: “Câu thai có nghĩa là câu đố. Trong trò chơi cổ nhơn vào mùa xuân ở nông thôn, câu đề để đố người chơi xét đoán là câu thai”2. Ví dụ, khi hát Chỉ vì cái lưỡi đa đoan/ Cho nên cúc rã lan tàn hỡi ai! là câu thai chỉ “cái kéo”. Câu Lánh mình ở chốn giang tân/ Lại còn mang tiếng vi thần bất trung là câu thai “tranh đế” (người nghe xét đoán, suy luận “lánh mình để mọc ở bờ sông là tranh giành sự sống với con nước, ngụ ý “giành nước” là tranh ngôi vua, tức “tranh đế” - tên một loại cỏ tranh). Như vậy từ lối chơi trò cổ nhơn người ta đã đưa lối hô thai vào hội chơi Bài chòi. Vì thế “người ta cũng dùng thuật ngữ hô thai với cái nghĩa hô câu Bài chòi”3.
Xem xét hình thức ca từ của câu thai/câu hô Bài chòi thuở mới hình thành, từ câu hô mộc mạc tên quân bài theo thể lục bát với “nét nhạc gần như nói đi dần tới câu hô không có ý nghĩa gì mà chỉ cần có tên quân bài”4, câu hô Bài chòi đã có thêm lối diễn tấu/ diễn giải thêm bằng các từ đệm như “hơ, hượu, ư, a, mà, là…” dù lời hô có nội dung, ý nghĩa nhưng thiên về mục đích là hô tên quân bài.
Hô Bài chòi chỉ thực sự hấp dẫn khi lời hô quân bài đã nâng lên thành “Bài chòi câu”; lời hô mỗi quân Bài chòi đã “có câu dài hơn, có tình tiết, có đầu có đuôi, trọn vẹn ý nghĩa”... Bài chòi câu là khi lời hô các quân bài đã trở thành một tác phẩm văn chương, một diễn ngôn nghệ thuật. Quân bài Nhì nghèo được “văn học hóa” thành: Một anh để em ra/ Hai anh cũng để em ra/ Em về em buôn em bán/ Em trả nợ bánh tráng/ Em trả nợ bánh xèo/ Còn dư em trả nợ thịt heo/ Chứ anh đừng có lầm em nữa mà anh mang nghèo vì em. Một tình cảnh khác, đó là phận làm dâu, từ nỗi khổ vật chất đến nỗi khổ tinh thần: Đêm nằm tôi nghĩ tôi rầu/ Làm dâu thiệt khổ từ đầu chí đuôi/ Đớn đau, tối mặt, vùi đầu/ Các chị thì sung sướng, riêng con dâu thì mẹ hành/ Chê tôi khờ dại không lanh/ Mẹ đào, mẹ bới tội tình xót xa/ Công trình cha với mẹ sinh đẻ tôi ra/ Gả cho con của mẹ lại còn bù của thêm/ Phải ở thời chồng vợ trọn niềm/ Không nên thì mỗi đứa lo tìm chốn thảnh thơi/ Không nên thì mỗi đứa mỗi nơi/ Tôi ra khỏi cửa để mẹ kiếm nơi sang giàu/ Ở chi đây mẹ mắng trước, mẹ chửi sau/ Ngày nào mẹ cũng cứ nghèo với giàu mẹ đay!
“Bài chòi câu” đã thực sự là một dạng thức “nói thơ” thành bài theo lối tự sự bằng thơ, từ việc dẫn nhập trò chơi, giới thiệu các quân bài, cách chơi, cách thắng, thua của việc chơi.
Sau khi người chơi đã cầm trên tay ba quân bài, anh Hiệu đến trước ống bài nọc, nói: Hiệu phát bài đã đủ…/ Cho Hiệu thủ bài tì... Nhạc trỗi lên, anh Hiệu hát chào, dẫn nhập cuộc chơi bằng câu “giới thiệu trò chơi” như sau: Gió xuân phảng phất nhành tre/ Mời bà con cô bác lắng nghe (tui hô) Bài chòi/ Bài chòi, bài tới là ba mươi lá/ Dang tay sớn sá là cái gã ông Ầm/ Trợt té xuống hầm là cái anh Tứ Cẳng/ Nước da trăng trắng là cái chị Bạch Huê/ Một cổ hai kê là anh chàng Chín Gối/ Ba chìm bảy nổi là cái chị Sáu Ghe/ Lập bạn, lập bè là cái anh Ngủ Dụm/ Lùm đùm, lụm đụm xách bị đi xin/ Là cái anh Nhì Nghèo - đã nghèo mà lại càng khổ/ Hay bươi hay mổ là chú Ba Gà/ Có ngạnh có ngà là cái anh Tứ Tượng/ Giăng màn phủ trướng là cái chị Tam Quăn/ Đò đỏ đen đen là Đượng hắn, Đượng (Nọc Đượng) hắn kia kìa…/ Ớ bạn mình ơi xin hô con bài đầu…
Như vậy, xét về mặt văn bản thì lời hô/ ca Bài chòi là một loại hình văn học dân gian mang tính nguyên hợp/ tích hợp giữa ba yếu tố ngôn từ, âm nhạc, điệu bộ tương tác giữa người hô và người nghe. Trong hô hát Bài chòi vai trò ngôn từ/ diễn ngôn văn học mang tính diễn đạt/ biểu hiện đóng vai trò chủ yếu.
Đặc điểm thi pháp lời hô Bài chòi
Việc tìm hiểu những đặc điểm nghệ thuật của lời hô/ ca Bài chòi là hết sức quan trọng, vì “thi pháp văn học dân gian là toàn bộ những đặc điểm về hình thức nghệ thuật, về phương thức và thủ pháp miêu tả, biểu hiện”1.
Trước hết, nếu trong thơ cổ điển thuộc văn học thành văn thời Trung đại thiên về điệu ngâm thì ca từ của Bài chòi câu thiên về thơ điệu nói - thơ trữ tình dân gian điệu nói, đúng như các nhà nghiên cứu thi pháp nhận định “trong thơ cổ điển, người nào càng gần với dân gian thì trong thơ có hình thức điệu nói. Càng xa dân gian thì càng gần với điệu ngâm (thơ Hồ Xuân Hương, Tú Xương là thơ điệu nói)”2.
Về thể thơ, có thể thấy lục bát là phổ biến nhất. Trước hết là các câu hô trong “ứng tác” tại hội Bài chòi (còn gọi là hát “kiến tại”) của anh, chị Hiệu của nghệ thuật trò chơi Bài chòi (Bai choi games) và sau là Bài chòi biểu diễn (Bai choi performance) của các diễn viên sân khấu ca kịch Bài chòi. Bài chòi lục bát gồm một câu sáu (lục) và một câu tám (bát): Làm thân con gái chẳng lo/ Ngủ trưa đứng bóng dậy đo mặt trời (Ngủ Trưa); Đi đâu mang sách đi hoài/ Cử nhân chẳng đậu, tú tài cũng không (Nhứt Trò)... Trong hô hát Bài chòi cũng có khá nhiều câu lục bát biến thể: Dụm miệng kể chuyện hai, ba/ Chuyện ông, chuyện bà kẻ thúi, người thơm (Ngủ Dụm); Chú giỏi sao chú chẳng đi thi/ Cứ ăn xó bếp ngủ thì chuồng trâu/ Chú trạng không xứng trạng tui có hầu cũng uổng công (Lục Trạng); Nước trong xanh chảy quanh hang dế/ Sách vở anh dùi mài, vậy mưu kế anh đâu? (Nhứt Trò)
Trong Bài chòi, thơ song thất lục bát hiếm hơn, vì thể thơ này rất khó trong việc hô/ hát. Theo nhà nghiên cứu Hoàng Lê thì nó “luôn bị tình trạng trục trặc, rời rạc của hai câu thất (diễn tiến giai điệu có tính chu kỳ). Do điệu hát vừa vào nhịp êm ả ở hai câu thơ lục bát, bỗng tiếp theo gặp ngay sự thay đổi tiết tấu, cao độ và vị trí của thanh điệu chủ ở hai câu song thất lục bát vì phải theo sự thay đổi của tiết thơ. Rồi cứ như thế, đoạn hát bị lặp lại nghe rất giống nhau, rất nhàm tai”. Tuy vậy lời hô vẫn sử dụng thể thơ này vì rất cần cho những lúc chuyển điệu: Có thằng cha nghênh ngang trời đất/ Cứ mặt mày đỏ gắt tối ngày/ Ầm ầm khi tỉnh khi say/ Ông chê bà trách chầu rày xin thôi (Ông Ầm).
Ngoài ra, lời hô/ hát Bài chòi còn sử dụng hầu như tất cả các thể thơ: thơ bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, bảy chữ… thơ tự do nhiều chữ (như câu thơ văn xuôi). Sự hiệp vần của các thể thơ khá tự do chứ không nhất thiết phải hiệp vần như lục bát, lời hô/ ca có sự nhất quán về “vần” khá lỏng lẻo (cưỡng vận), chỉ hướng đến sự hài hòa của nhạc điệu chứ không bó buộc cứng nhắc: Chồng nằm chính giữa/ Hai vợ nằm hai bên/ Lấy chiếu đắp lên/ Hô là ba bụng (Ba Bụng - Bánh Ba)... Như vậy, câu hô/ ca Bài chòi từ lục bát đến lục bát biến thể rồi thâu thái cả song thất lục bát, thơ ba câu, bốn câu, năm câu… đến lối nói thơ tự do dài hơi đúng với quá trình văn học hóa “bắt đầu từ một nhu cầu giải trí, nảy sinh một nhu cầu thẩm mỹ là bước khai sinh của hô Bài chòi”1.
Về kết cấu, lời hô/ ca của Bài chòi thường là độc thoại/ đơn diễn - một vế hô/ hát tức một vai kể/ diễn của một người trong vai anh/ chị Hiệu: Ước gì sông rộng một gang/ Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi/ Trời làm đôi lứa đôi nơi/ Chàng than thở phận, thiếp bồi hồi duyên (Bánh Hai); Ước chi em chưa có chồng/ Anh về thưa với cha mẹ mang rượu nồng đón em/ Xui cho đôi lứa thuận tình/ Dẫu có ăn hột muối nằm đình cũng ưng (Sáu Hột).
Đồng thời với lời ca một vai/ một vế là lời ca hai vế theo dạng “hỏi - đáp”, “đố - giải”, “kẻ thắc mắc - người giải trình, phân bua”, thường ứng dụng khi có hai người hô/hát - trong trường hợp sử dụng làn điệu hò khoan thì nhiều người có thể hò xô “khoan hố hợi hò khoan” theo người hò xướng: Con chi mỏ đỏ lông vàng/ Đậu trên cành khế hỏi nàng giống chi?/ Giống chi em còn hỏi giống chi/ Đậu trên cây khế tức thì giống chim/
Chẳng tin em hãy nhìn xem/ Nó là chim đỏ mỏ lại thêm lông vàng (Đỏ Mỏ).
Về phương thức giải mã quân bài, lời ca Bài chòi thường được ứng tác, sử dụng nguồn bài bản được trao truyền từ trước mà những câu hô/ hát ấy luôn có xu hướng “câu đố hóa”, buộc người nghe suy đoán con bài sắp ra là con bài gì?
Có nhiều phương thức giải mã quân bài. Đơn giản là phương thức đồng âm - đồng nghĩa: Cứ hô/ hát về sự vật, sự việc, hiện tượng nào đó có nhắc đến tên quân bài, lập tức người nghe biết được tên quân bài: Mất con gà em la cả xóm/ Ba bốn ngày họ đoán không ra… (Ba Gà). Phương thức này thường có “đáp án” sớm, thiếu sự “ức chế thời gian” để người chơi suy đoán, khiến việc hô/ hát thiếu hấp dẫn. Nếu anh, chị Hiệu cứ lạm dụng phương thức này, trò chơi/ trò diễn sẽ kém vui…
Phương thức đồng âm dị nghĩa là kiểu hô hát tạo sự gợi mở, liên tưởng của người nghe về nghĩa (và trường nghĩa) của quân bài tương đối xa hơn, lại gợi nhiều điều để so sánh, đối chiếu các ý nghĩa để suy đoán về tên quân bài: Thời nay võ nghệ huyên thuyên/ Không ai gióng được đường quyền ngày xưa (Gióng). Trong trường hợp này thì “gióng” là “gióng đường quyền” liên quan đến võ thuật, gióng đường quyền đồng âm với gióng để gánh.
Phương thức miêu tả đặc điểm, tính chất của nhân vật/ sự vật/ sự việc… lại gần giống với phương thức tạo lập câu đố dân gian khi miêu tả đặc điểm, tính cách, tính chất của sự vật, hiện tượng để gợi sự liên tưởng, sự hình dung đến “đối tượng” yêu cầu phải giải mã của câu đố. Mình rồng mặc áo mã tiên/ Ngày ba bốn vợ tối nằm riêng một mình (Ba Gà); Hay: Con quan gọi là công tử/ Con một, con ngoan, con giỏi được gọi là quý tử/ Vậy ta thử hỏi nàng/ Con vua tước hiệu rõ ràng là chi? (Thái Tử)
Về cách ứng tác lời hô/ hát Bài chòi
Lời ca Bài chòi luôn hấp dẫn ở tài nghệ của anh/chị Hiệu trong việc ứng tác tại chỗ, lấy bối cảnh giao đãi tại chỗ hay ngữ cảnh tương tác giữa người cầm chịch cuộc chơi bài và người chơi ngay tại nơi diễn trò.
Trước hết, diễn trình “văn học hóa” của anh Hiệu luôn diễn ra trên cơ sở thu nạp đầy đặn kho ngữ liệu truyền khẩu về các quân bài - tức bài hô các quân bài từng được nghe, từng hô trong quá khứ. Qua đó, anh/ chị Hiệu vận dụng các“bài bản”đã thuộc, thêm thắt những tình tiết mới phù hợp với tình huống giao đãi, nhu cầu thể hiện đề tài thiết thực của cuộc sống mới như khen chuyện “người tốt việc tốt”, phê phán cười giễu cái xấu, cái lạc hậu, cái ác… Chẳng hạn đây là màn hát đôi của anh/ chị Hiệu phê phán chuyện say sưa:
Nam: Này em ơi - em đừng có trách tôi say/ Ngày xuân ngày Tết, chúc tụng nhau phải có tí cay tí nồng/ Mặc cho ai đo ai thổi nồng độ cồn/ Chứ - hiu hiu gió thổi đầu non/ Mấy thằng uống rượu là con Ngọc Hoàng/ Nam vô tửu như kỳ vô phong/ Chứ đàn ông mà không bia, không bọt đúng là cái hàng bỏ đi…
Nữ: Anh ơi sách có câu làm trai cho đáng nên trai/ Xuống đông, đông tỉnh lên đoài, đoài yên/ Mấy ai khen anh cờ bạc, anh rượu chè/ Say vô anh cứ lè nhè bê tha/ Đêm tới ngày anh vất vưởng như con ma/ Anh sống mà như chết thì chẳng thà…chẳng thà…
Nam: Thà làm răng?…
Nữ: Thì chẳng thà tôi đem…quăng!
(Tam Quăn)
Khi hô hát đơn, tài nghệ của người hô là dựa trên việc ghi nhớ các bài bản đã hô về một quân bài - thường một quân bài có hai đến ba bài hô, nên việc chọn lựa của anh/ chị Hiệu rành nghề là không khó mấy. Ngoài việc ghi nhớ tốt những bài bản có sẵn thì tài năng là việc cập nhật những vấn đề “thời sự” của cộng đồng làng xóm, chuyện ứng xử giữa người với người, ngợi ca người tốt việc tốt, phê phán thói hư tật xấu… Ra đường sợ chuyện giao thông/ Say vô cầm lái như rồng thăng thiên/ Say vô vận tốc thằng điên/ Say vô phủi cẳng leo lên bàn thờ/ Say vô sớm đoàn tụ với ông bà/ Ngồi trên nóc tủ ngắm gà, ngắm gà khỏa thân (Ba Gà)
Trường hợp hô hát đôi, thường giữa anh và chị Hiệu chắc chắn đã chuẩn bị bài bản từ trước, nếu việc hô/ hát đối đáp diễn ra ngẫu hứng, ngẫu nhiên thì thực họ là những nghệ sĩ đích thực, vừa sáng tác/ ứng tác vừa biểu diễn trong trò chơi/ trò diễn Bài chòi.
Có thể thấy rằng, từ trò chơi dân gian đến hình thức diễn xướng nghệ thuật, Bài chòi xứ Quảng đã khẳng định sức sống của một di sản văn hóa độc đáo. Trong từng lời hô, thể thơ và cách ứng tác ẩn chứa chiều sâu văn chương dân gian và tâm hồn người dân, vừa hóm hỉnh, trữ tình, vừa mang nhiều bài học sâu sắc. Bài chòi vì thế không chỉ là trò vui, mà là biểu hiện sinh động của đặc trưng văn hóa xứ Quảng.
P.T.Đ
Chú thích:
- Nguyễn Lê Uyên, “Tiến trình phát triển của Bài chòi”, Văn chương Việt - vanchuongviet.org/index.php?. comp=tacpham&action=detal&id=8151
- Trương Đình Quang (1990), Lịch sử kịch hát Bài chòi, bản đánh máy 57 trang - tư liệu riêng của tác giả (đã mất) chưa xuất bản tr.3-1990.
- Trương Đình Quang (1990) Tlđd,tr.4.
- Đinh Thị Hựu, Trương Đình Quang (2012), Bài chòi xứ Quảng, NXB Lao Động, Hà Nội, tr.39.
- Chu Xuân Diên, (2000), Văn học dân gian Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, (dẫn theo Đinh
- Đinh Thị Hựu, Trương Đình Quang, (2012), Bài chòi xứ Quảng, NXB Lao Động, tr.55).
- Đại học Huế, (1997), Giáo trình thi pháp học, NXB Đại học Huế, Huế, tr.55.
- Phan Ngạn, (1993), Tìm lại nguồn gốc của sân khấu Bài chòi - Ca kịch Bài chòi, những vấn đề nghệ thuật, Viện sân khấu XB, Hà Nội, tr.96.