Kỷ vật của đợi chờ

27.02.2026
Thăng Hoa

Kỷ vật của đợi chờ

Mẹ tôi đã về miền mây trắng được mấy năm rồi. Cả cuộc đời nghèo khó, mẹ chẳng để lại cho con cháu tiền của, vàng bạc gì nhiều. Nhưng trong sâu thẳm ký ức tôi, có một thứ mẹ nâng niu như báu vật đời mình: tấm áo xi ta của cha. Đó là kỷ vật duy nhất còn sót lại từ mùa đông năm 1954, trước ngày ông tập kết ra Bắc.

Tôi lớn lên cùng sự hiện diện thầm lặng của tấm áo ấy. Nó được may bằng thứ vải dày dặn, màu xám tro, có hai chiếc túi rộng phía trước với vẻ ngoài mộc mạc nhưng chứa đựng cả một bầu trời thương nhớ.

Lâu lâu khi trời hửng nắng, mẹ lại cẩn thận mang áo ra phơi. Mẹ hong nắng thật kỹ, vuốt ve từng nếp vải, rồi gấp gọn gàng, đặt vào chiếc bầu tre - vật dụng thân thuộc của làng quê miền Trung, được trét dầu rái thơm nồng để ngăn mối mọt.

Ngày nhỏ, có lần tôi tò mò hỏi:

 - Áo của ai mà mẹ giữ kỹ thế? Sao con chẳng thấy mẹ mặc bao giờ?

Mẹ chỉ cười hiền, ánh mắt xa xăm:

- Áo của cha con đó. Ông ấy đi xa rồi… Mẹ giữ lại, đợi con lớn, đợi cha con về...

Cái tên “xi ta” nghe lạ lẫm mà thương quá đỗi. Mẹ bảo đó là loại vải do bàn tay những người thợ vùng Duy Xuyên, Đại Lộc… dệt nên để cung cấp cho cán bộ, bộ đội thời kháng chiến. Vải không bóng bẩy như lụa, không mềm mượt như nhung, nhưng bền bỉ và ấm áp lạ lùng. Nó có thể là tấm áo che thân lúc sương muối, là chiếc khăn quàng cổ khi gió lộng, hay thậm chí là chiếc mền sưởi ấm những đêm đông lạnh buốt ở chiến khu.

Mỗi lần mẹ phơi áo, tôi lại nghe mẹ hát khe khẽ. Giọng mẹ nhẹ tênh mà da diết, chỉ đủ để tôi nghe: “Gió bấc tới đây xào xạc rung cây lá lá bay/ Một mùa đông bao người đan áo…/ Tấm áo xông pha,/ Mùa lạnh che thân chiến sĩ ta/ Đây là áo nơi quê nhà,/ Này người ơi có thấy…”. Mãi sau này tôi mới biết, đó là những giai điệu trong bài “Áo mùa đông” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận, sáng tác vào cuối những năm 1940. Bài hát ấy, cùng tấm áo ấy đã trở thành sợi dây vô hình nối mẹ với người chồng phương xa suốt hai mươi năm ròng rã.

Cha tôi có chiếc áo ấy từ cuối năm 1953, trong một lần từ chiến khu Trà My về phép. Hình ảnh cha ngày đó hiện lên qua lời kể của mẹ vừa oai hùng vừa lạ lẫm: cha mặc áo xi ta, vai đeo súng dài, đi cùng một đồng chí người dân tộc thiểu số, thân hình cao lớn, rắn rỏi, đóng khố, để râu dài, vai kè kè cây nỏ...

Cả làng tôi ngày ấy xôn xao. Không chỉ trẻ con, mà người lớn cũng tò mò. Họ lấy cớ sang thăm chơi, nhưng thực ra là để tận mắt nhìn cho rõ “ông người Thượng”. Có người còn tò mò sờ thử cái khố thả dài gần đầu gối, xem có phải… cái đuôi không, vì nghe đồn “người Thượng” thường có đuôi! Ông nói tiếng Việt không sõi, chỉ vài ba từ thông dụng; hỏi chuyện gì sâu hơn là cha tôi phải đứng ra “thông dịch”. Ngày ấy, miền ngược miền xuôi cách trở trăm bề, người ta gần như không hiểu gì về nhau, nên mới sinh ra những chuyện ngộ nghĩnh mà nay nhớ lại vẫn vừa buồn cười vừa chạnh lòng.

Trong những ngày ở quê, cha tôi dắt vị cán bộ “người Thượng” ấy xuống chợ Được, định may cho ông một bộ đồ giống như mình. Nhưng ông lắc đầu từ chối: “Ở trên núi cao, mình quen đóng khố rồi”. Năn nỉ mãi, ông chỉ nhận một chiếc khăn ấm bằng vải xi ta, để cha tôi vui lòng. Một kỷ vật nhỏ, nhưng là sự gắn kết máu thịt của tình đồng chí, giữa người miền xuôi với người vùng cao.

Trước khi trở lại Trà My, cha tôi còn dắt vị cán bộ “người Thượng” ấy xuống biển quê nhà cho biết. Ông ấy chưa từng thấy biển, chưa từng biết vị mặn của nước biển...

Hiệp định Genève được ký kết, cha tôi đi tập kết. Lời hẹn “hai năm” hóa thành đằng đẵng hai mươi năm. Hai mươi năm mẹ một mình nuôi con, đối mặt với bão giông và bom đạn. Hai mươi năm, chiếc bầu tre trong góc nhà vẫn vẹn nguyên mùi băng phiến, bảo bọc tấm áo xi ta khỏi sự tàn phá của thời gian.

Có lúc, mẹ tôi bị đưa đi “học tập” ở trại “Về nguồn” trên Hà Lam. Mẹ phải mang tôi và chiếc bầu đựng quần áo - trong đó có tấm áo xi ta, gửi lại cho bà ngoại, xem như hai thứ quý giá nhất trong đời.

Ngày cha trở về, tóc cha và tóc mẹ đều đã lấm tấm bạc. Mẹ lặng lẽ mở bầu tre, trao lại tấm áo năm nào. Cha sững sờ. Áo đã bạc màu, nhưng tình của mẹ thì vẫn vẹn nguyên, đậm sâu như thuở ban đầu. Giữa một cuộc chiến khốc liệt, mẹ đã giữ lại được chút hơi ấm cuối cùng của ngày chia ly.

Có người tò mò hỏi, ông Dúi - người cán bộ ở Trà My ngày nào cùng cha tôi về xuôi - có đi tập kết cùng cha tôi không. Cha bảo: bác ấy do tuổi cao nên không muốn đi, nhưng chính bác đã dẫn đường, cắt rừng gần cả tháng trời để hai người vào đến Quy Nhơn, kịp chuyến tàu thủy cuối cùng để cha tôi ra Bắc rồi mới quay về. Cha tôi thương bác lắm. Nhưng từ đó, vì cách trở hai miền, cả hai không còn tin tức của nhau. Cha từng nói sẽ dò hỏi tin tức, sẽ có chuyến đi lên Trà My thăm người bạn cũ, thăm lại chiến trường xưa…

Giờ đây, cha và mẹ tôi đều đã về miền mây trắng. Tấm áo xi ta ấy cũng không còn nữa. Nhưng mỗi khi ký ức thức dậy, tôi vẫn thấy lòng mình ấm áp lạ thường, như thể tôi vẫn đang được che chở dưới lớp vải dày dặn của tấm áo năm nào - tấm áo được dệt bằng sợi nhớ, sợi thương và lòng chung thủy vẹn tròn của mẹ!...

T.H