Rượu tri âm

Buồn đầy làm sao cho vơi? Uống rượu. Uống rượu không phải là cách duy nhất nhưng là cách người ta thường dùng. Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh vốn mang nỗi buồn lưu cữu cũng đã tìm đến rượu.
Chạm cốc mình tôi
Rót đêm vào cốc rượu này
Biết đâu trời đất cũng say như mình
Say từ tự ngã vô minh
Từ trong lục dục thất tình đa đoan
Rót vào tôi chén rượu tràn
Xin nâng ly với hàm oan đời này
Mê lầm một kiếp ai hay
Rót vào đêm chuốc lấy ngày
chẳng yên
Rót tôi vào chén rượu thiền
Mong rũ sạch mọi ưu phiền
thế gian
Cạn đời hệ lụy đa mang
Cạn tôi trong chén đạo tràng vô ưu
Một mình say với mình thôi
Xác thân vô ngã có rồi lại không
Treo đời giữa chốn mông lung
Có gì đâu cõi vô thường mây bay
Tôi xin cạn chén rượu này
Rót vào đâu cũng trắng tay hết rồi
Thôi thà chạm cốc mình tôi
Biết đâu cạn chén hạ hồi tri âm…
(Rút từ tập thơ Nắng dậy thì của nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, NXB Hội Nhà văn, 2023)
Tìm đến với rượu, “cốc rượu” và “rót” trở thành tín hiệu nghệ thuật cho thi sĩ thăng hoa cảm xúc để sáng tác bài thơ Chạm cốc mình tôi. Các thi ảnh này chuyển dịch trong không gian bài thơ mở ra nhiều đường biên liên tưởng cho bạn đọc khám phá nhiều chiều kích tâm trạng của chủ thể trữ tình.
Không “đối ẩm” cùng bạn bè, khi đến với rượu, chủ thể trữ tình lại chọn cách “chạm cốc mình tôi”. Đây cũng là lúc mình đối diện với chính mình. Mình đối diện với chính mình thì còn gì cô đơn hơn, buồn hơn. Uống rượu một mình thì cũng phải chọn không/ thời gian phù hợp là“đêm”. Bởi thế khi không gian bài thơ vừa mở thì “đêm” đã hiện diện cùng “cốc rượu” rồi:
Rót đêm vào cốc rượu này
Biết đâu trời đất cũng say như mình
Không phải rót rượu mà là “rót đêm”. Lại “rót đêm” vào “cốc rượu”. Với cách nói này, tác giả đã mở rộng đường biên liên tưởng: “đêm” không còn là không/thời gian đồng hành cùng nỗi buồn mà là hiện thân của nỗi buồn. Vì buồn mà tìm đến rượu. Và, uống rượu cũng vì buồn. Mối quan hệ nhân - quả này thi sĩ đã để cho hình ảnh thơ “rót đêm vào cốc rượu” cất tiếng.
Người ta tìm đến rượu đều có mục đích. “Say” là hệ lụy của uống rượu chứ không phải là mục đích. Vậy mà ngòi bút của Nguyễn Ngọc Hạnh lại xoáy vào cái hệ lụy này: Say từ tự ngã vô minh/ Từ trong lục dục thất tình đa đoan. “Từ tự ngã vô minh”, “từ trong lục dục thất tình” đã say cho đến tận giờ vẫn tiếp tục say thì quả là nhân vật trữ tình “tôi” đã mang trong mình nỗi buồn truyền kiếp.
Vậy nên:
Rót vào tôi chén rượu tràn
Xin nâng ly với hàm oan đời này
Mê lầm một kiếp ai hay
Rót vào đêm chuốc lấy ngày
chẳng yên
Ra thế, “tôi” bước vào cõi đời này vì “mê lầm” lại “hàm oan” chứ “tôi” không muốn dấn thân. Nhưng đã lỡ có mặt trên cõi đời này rồi, “tôi” đành chấp nhận. Chấp nhận sự hiện diện của mình trên cõi đời cũng tức là chấp nhận sống chung với nỗi buồn. Nên, hãy “rót vào tôi chén rượu tràn”. “Chén rượu tràn” kia hẳn chứa đầy “mê lầm một kiếp”, “hàm oan đời này” nhưng tôi vẫn sẵn sàng đối mặt “xin nâng ly” và tiếp tục “rót”: Rót vào đêm chuốc lấy ngày chẳng yên.
Cũng là “rót”, cũng là “đêm” nhưng “rót vào đêm” hẳn không phải rót buồn vào rượu như cách nói “rót đêm vào cốc rượu này” ở khổ thơ đầu mà có lẽ chủ thể muốn trút nỗi buồn vào không/ thời gian “đêm” và “ngày”. Nỗi buồn đời kiếp như khép kín ngày đêm, vây phủ đời “tôi” nên dù có “rót vào đêm”, có “chuốc lấy ngày” vẫn “chẳng yên”. “Chén rượu tràn” không giúp “tôi” yên, “tôi” phải tìm đến chén rượu đặc biệt:
Rót tôi vào chén rượu thiền
Mong rũ sạch mọi ưu phiền thế gian
Cạn đời hệ lụy đa mang
Cạn tôi trong chén đạo tràng vô ưu
Đó là “chén rượu thiền”. Là mượn rượu để thiền định, để đạt được giác ngộ siêu việt? Có thể. Khi đến với “chén rượu thiền” người thơ có cách nói khác là “rót tôi vào” chứ không phải “rót vào tôi” như khi nói về “chén rượu tràn”. Có phải vị thế của “tôi” khi đến với rượu thiền có thay đổi? Phải, “tôi” không còn là đối tượng sẵn sàng đón nhận bao oan nghiệt trần thế trong “chén rượu tràn” mà là chủ thể chủ động tìm đến “chén rượu thiền” để giải thoát nỗi buồn. Vì chỉ có “chén rượu thiền” mới Mong rũ sạch mọi ưu phiền thế gian. Và hơn thế là:
Cạn đời hệ lụy đa mang
Cạn tôi trong chén đạo tràng vô ưu
“Cạn đời hệ lụy đa mang” là chuyện bình thường, còn “cạn tôi trong chén đạo tràng vô ưu” mới là siêu việt. Lại thêm một khái niệm “chén” nữa xuất hiện: “Chén đạo tràng”. “Chén đạo tràng” hẳn nằm trong trường liên tưởng từ “chén rượu thiền”. Và, “chén đạo tràng”chính là con đường dẫn đến “chén rượu thiền”. Có vẻ như khi đến với “thiền”, “tôi”đã giác ngộ ra rằng:
Xác thân vô ngã có rồi lại không
Treo đời giữa chốn mông lung
Có gì đâu cõi vô thường mây bay
“Vô ngã”, “có - không”, “vô thường”… các khái niệm trong triết lý Phật giáo xuất hiện với tần suất dày trong khổ thơ. Có phải tác giả muốn bày tỏ quan niệm sống buông bỏ? Coi trần thế chỉ là cõi tạm, người sống trong cõi tạm không phải là sống mà là Treo đời giữa chốn mông lung, chỉ là cái “thân xác vô ngã” ở “cõi vô thường” dễ dàng về chốn “mây bay” không chút vướng bận. Mà “có gì đâu” phải vướng bận khi ta đã buông bỏ rồi. Rất thấm nhuần tư tưởng triết lý Phật giáo! Suy niệm này “tôi” chỉ muốn ấp ủ trong lòng thôi: Một mình say với mình thôi. Dù có lúc “tôi” cũng muốn “trời đất cũng say như mình”, có lúc muốn say cùng với tháng ngày thầm lặng chảy qua đời mình, nhưng khi đã ngộ được lối sống buông bỏ thì Một mình say với mình thôi là hợp lý nhất.
Và từ đây, cái mạch cảm xúc “mình say với mình” tiếp tục chảy và đọng lại ở khổ thơ cuối:
Tôi xin cạn chén rượu này
Rót vào đâu cũng trắng tay hết rồi
Thôi thà chạm cốc mình tôi
Biết đâu cạn chén hạ hồi tri âm…
“Chén rượu này” một lần nữa xuất hiện ở khổ thơ cuối làm hô ứng với “cốc rượu này” ở khổ thơ đầu. Sự hô ứng này cho bạn đọc hình dung: “tôi” rót “cốc rượu này” ra như để bày tỏ ý định của mình trong cách giải thoát nỗi buồn. Sau lời lý giải vì sao tìm đến rượu qua ba khổ thơ tiếp thì cuối cùng “chén rượu này”, “tôi” quyết định “xin cạn”. Cạn chén rượu này là “cạn hệ lụy đa mang”, là “cạn tôi trong chén đạo tràng vô ưu”, thế cũng tức là “trắng tay hết rồi”. “Trắng tay” không có nghĩa là mất bởi“có gì đâu”mà mất trong cái “cõi vô thường” này. Vậy thì cái mà “tôi” muốn kiếm tìm là gì khi “cạn chén rượu này”? Lời đáp nằm ở đây: Biết đâu cạn chén hạ hồi tri âm…
Thì ra, tìm“tri âm”mới là cái đích của “tôi”. Tìm người hiểu được tiếng lòng, tiếng thơ của mình đâu phải dễ. Chính vì khó tìm nên “tôi” không biết chia sẻ cùng ai nỗi buồn đa mang nặng trĩu trong lòng. Nên buồn lại càng buồn hơn. Từ “tri âm” khép lại bài thơ nhưng lại là chìa khóa mở ra hồn vía bài thơ: tìm tri âm để chia sẻ nỗi buồn. Nhưng “tri âm” ở đâu khi “tôi” chỉ “chạm cốc mình tôi”, tức là “tôi” chỉ bạn với rượu. Vậy, chẳng phải “rượu” từ là “cách hóa giải” đến hóa thành “tri âm”?
“Thơ là một trải nghiệm độc đáo, nơi tôi được sống trọn vẹn với những nỗi buồn riêng biệt, thiết tha. Thơ là hơi thở, là ngôi nhà tôi phải trở về cùng với nỗi buồn lưu cữu của chính mình”. Đó là lời tâm sự của Nguyễn Ngọc Hạnh về thơ trong tập Nắng dậy thì. Không biết “nỗi buồn riêng biệt”, “nỗi buồn lưu cữu” của ông là gì nhưng qua Chạm cốc mình tôi, bạn đọc như thấy một “tôi” trữ tình hiện diện qua bài thơ mang nặng nỗi buồn đời cần được sẻ chia. Nỗi buồn này gửi gắm qua thơ há chẳng mong tìm gặp “tri âm”? Mà muốn thế, người thơ đã phải tỏ rõ một nội lực thi pháp.
Để dẫn dắt bạn đọc khám phá hồn vía bài thơ, Nguyễn Ngọc Hạnh đã rắc những tín hiệu nghệ thuật: “rót” (rót đêm, rót vào tôi, rót tôi vào) và “chén” (chén rượu này, chén rượu tràn, chén rượu thiền, chén đạo tràng) trên con đường thám mã của họ. Nương theo những tín hiệu này, bạn đọc dần mở từng căn phòng của ngôi nhà thơ để tìm tứ thơ. Qua gần hết năm khổ thơ mà trước mắt bạn đọc như chỉ hiện diện một kẻ say bên “chén rượu” và “rót”. Cho đến câu thơ cuối cùng bạn đọc mới vỡ lẽ rằng “rượu” là cái cớ và “say” là cái cách để chủ thể sáng tạo bất ngờ vén màn làm lộ diện chân dung một “tôi” trữ tình suốt đời đi tìm bạn tri âm để chia sẻ nỗi buồn. Một cấu tứ thật độc đáo!
Với sự lặp lại của “chén rượu” và “rót” cùng với cách sử dụng biến hóa hai tín hiệu nghệ thuật này, ngòi bút của Nguyễn Ngọc Hạnh như khoan sâu vào tận đáy tâm tư của chủ thể để phơi lộ khối buồn. Vì chỉ có nỗi buồn đọng thành khối mới khiến người ta muốn “say”, muốn được sẻ chia…
Phủ lên bài thơ là một giọng điệu buồn u uất. Đương nhiên vậy. Thơ của Nguyễn Ngọc Hạnh hiếm giọng vui. Và, buồn là giọng đặc trưng của thơ anh. Một nỗi buồn nặng trĩu phủ ngập hồn tránh sao không u uất. Mạch buồn này chảy suốt bài thơ như không có điểm dừng bởi hy vọng tìm được“tri âm”để sẻ chia nỗi buồn cũng rất mong manh, cũng chỉ là “biết đâu” thôi. Sử dụng giọng điệu phù hợp với nội dung biểu đạt nhằm tạo hiệu ứng rung cảm cho bạn đọc chẳng phải là dụng ý nghệ thuật của chủ thể sáng tạo? Phải. Và bằng sự phối hợp nhiều biện pháp nghệ thuật đặc sắc, Nguyễn Ngọc Hạnh đã làm nên sức hút cho Chạm cốc mình tôi.
T.M