Ngọn lửa khai minh xứ Quảng

04.03.2026
Võ Văn Hoàng

Ngọn lửa khai minh xứ Quảng

Các lãnh tụ của Phong trào Duy Tân xứ Quảng: Phan Chu Trinh (1872-1926), Trần Quý Cáp (1870-1908), Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947)

Những năm đầu thế kỷ 20, từ vùng đất học Quảng Nam bùng lên một phong trào đổi mới sâu sắc về tư tưởng và hành động chưa từng có, đó là phong trào Duy Tân. Đây không chỉ là cuộc vận động khai trí, chấn hưng dân khí, mà còn là mốc son mở đường cho ý thức dân quyền và tinh thần tự cường của dân tộc Việt Nam.

* Từ khủng hoảng dân tộc đến đòi hỏi tự canh tân

Vào cuối thế kỷ 19, cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Nhật Bản (năm Giáp Ngọ, 1894) đã làm cho sĩ phu Trung Quốc giác ngộ về các phương pháp “phú quốc, cường dân” và những tư tưởng học thuật của văn minh mới. Vì thế, đã hình thành nên phong trào Duy Tân diễn ra sổi nổi ở khắp các đô thị của Trung Quốc, đứng đầu là Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu. Hai học giả này hết sức cổ xúy việc biến pháp, canh tân, làm cho sĩ khí thêm phấn khích. Các học hội, các tổ chức mới mọc lên rầm rộ ở nhiều nơi. Hoàng đế Quang Tự (nhà Thanh) cũng xuống chiếu bãi bỏ lối học cũ, lập học hiệu, cho dịch sách của nước ngoài, chấn hưng thực nghiệp, lập hội buôn, luyện tập quân sĩ theo lối mới, sa thải những quan lại tham nhũng, mở thêm đường sá, đặt ra những đặc khoa về kinh tế…[1]

Trong khi đó ở Việt Nam, sau khi ổn định bộ máy cai trị, thực dân Pháp ra sức khai thác thuộc địa, đẩy nhân dân ta vào cuộc sống bần cùng, cơ cực. Thêm vào đó, bọn tham quan, ô lại của chính quyền Nam triều ngày càng nhũng nhiễu, ra sức đè đầu, cưỡi cổ, bóc lột khiến cho đời sống của người dân lầm than tủi nhục, bị nô lệ về thể xác lẫn tinh thần, đồng thời, tự trói buộc trong những phong tục, tập quán rất lạc hậu. Người trí thức lúc bấy giờ chủ yếu học chữ Hán để mong thi đậu ra làm quan chứ không có sự nghiệp gì khác. Họ mơ hồ về chính trị và thiếu ý thức đấu tranh, thậm chí quên cả cái nhục mất nước. Tư tưởng “chuộng hư văn, khinh thực nghiệp” là tư tưởng phổ biến của nhà Nho. Ở nông thôn thì những lề thói ăn ở phản khoa học, phản tiến bộ vẫn được duy trì.

Trong bối cảnh ấy, một luồng gió duy tân từ Nhật Bản, Trung Quốc thổi vào Việt Nam, lập tức thu hút được sự quan tâm của tầng lớp trí thức có tư tưởng tiến bộ. Lúc này, Quảng Nam là vùng đất có truyền thống hiếu học, các sĩ phu yêu nước sớm tiếp xúc với những tác phẩm tân văn như như: Đại đồng thư của Khang Hữu Vi, Ẩm Băng Thất tùng thư, Trung Quốc hồn của Lương Khải Siêu, Mậu tuất chính biến ký, Nhật Bản duy tân tam thập niên sử (bản dịch chữ Hán của La Hiếu Cao), Kinh quốc mỹ đàm, Cận thế chi quái kiệt, Vạn pháp tinh lý của Mạnh Đức Tư Cưu (tức tác phẩm L’esprit des Lois của Montesquieu), bộ Khế ước xã hội của Lư Thoa (Du Contrat Social của J.J. Rousseau). Đặc biệt là tờ Dân báo của Trung Quốc Đồng minh do Chương Thái Viêm làm chủ bút… được các lái buôn người Hoa mang đến Hội An bán cho Châu Thượng Văn[2].

Ngoài những sách báo “tân văn” đến từ nước ngoài, các sĩ phu xứ Quảng lúc bấy giờ còn tiếp xúc với các tác phẩm tiến bộ trong nước như các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ, Thiên hạ đại thế luận của Nguyễn Lộ Trạch, sớ can ngăn vua của Phạm Phú Thứ, sớ xin bỏ khoa cử của Thân Trọng Huề, Lưu Cầu huyết lệ tân thư của Phan Bội Châu… Nhờ các tài liệu sách báo đó, đã mở ra hướng đi mới cho sĩ phu xứ Quảng. Họ cho rằng, nếu không tiến hành cải cách, duy tân nước nhà thì không bao giờ có thể mong thoát khỏi vòng nô lệ.

Những chí sĩ hăng hái với việc duy tân lúc này là Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng… Các ông hô hào, cổ động, lãnh đạo, vận động cải cách trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm đổi mới con người Việt Nam từ nếp sống đến nếp nghĩ; chủ trương việc học, mở trường tân học; lập hội buôn theo hướng “phú quốc cường binh”; cải cách, khuyến khích công nghệ; đòi chính phủ phải mở mang, khai hóa cho dân. Tại Quảng Nam, các cuộc nói chuyện được tổ chức, các lớp học văn hóa mới theo hướng tư sản được mở gần khắp các huyện, đâu đâu cũng có những cuộc vận động bài trừ hủ tục và cắt tóc ngắn...

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, phong trào Duy Tân ở Quảng Nam được khởi xướng từ năm 1903 hoặc có thể sớm hơn (1900). PGS.TS. Trương Công Huỳnh Kỳ - Trường Đại học Sư phạm Huế cho rằng, “tư tưởng duy tân được khởi mầm tại Huế và trở thành phong trào ở Quảng Nam từ năm 1903 do Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp khởi xướng. Từ Quảng Nam, phong trào đã lan tràn khắp các tỉnh miền Trung, ảnh hưởng mạnh đến Bắc Kỳ và Nam Kỳ”.[3]

* Ngọn lửa từ lòng dân xứ Quảng

Khoảng thượng tuần tháng 4 năm Giáp Thìn (1904), tại Nam Thịnh sơn trang ở làng Thạnh Mỹ (phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam), Tiểu La Nguyễn Thành tổ chức cuộc hội nghị bí mật quy tụ hơn 20 nhân vật trọng yếu để bàn phương thức cứu nước. Cuộc “mật hội” đã chia làm hai khuynh hướng: bạo động giành độc lập và cải cách ôn hòa. Ba bậc đại khoa xứ Quảng là Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp chủ trương cải cách xã hội để gây dựng tiềm lực dân tộc, đi đến giành độc lập tự do và quyết định phát động phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ từ đất Quảng Nam. Còn Phan Bội Châu, Nguyễn Thành... với xu hướng bạo động, chủ trương trước hết phải đánh Pháp giành độc lập nên quyết định thành lập một tổ chức yêu nước bí mật lấy tên Duy Tân hội vào tháng 5-1904[4].

Ngay từ đầu, chí sĩ Phan Châu Trinh đã khẳng định, duy tân không phải là một cuộc nổi dậy chính trị mà là “một sự thức tỉnh xã hội”. Với chủ trương cải cách ôn hòa, không bạo động, không dựa vào ngoại bang, ông chủ trương cải tạo dân trí và xây dựng một nền tảng xã hội tiến bộ từ gốc. Ông cho rằng, muốn cứu dân, phải khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Câu nói ấy đã trở thành phương châm hành động chung của toàn bộ phong trào Duy Tân ở xứ Quảng.

Về tổ chức, phần lý thuyết do các nhà lãnh đạo như Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyên, Trương Bá Huy đảm trách; còn việc thực hành, tổ chức cụ thể tại mỗi địa phương do các hương lý, nhân sĩ đảm nhiệm. Người tiêu biểu cho hoạt động thực hành là Lê Cơ, một viên lý trưởng làng Phú Lâm nhưng nổi bật bởi khả năng tổ chức và tinh thần canh tân mạnh mẽ... Phạm vi hoạt động của phong trào trải rộng khắp các làng xã ở Quảng Nam và cả Trung Kỳ. Các bậc đại khoa xứ Quảng đi khắp nơi để truyền bá tư tưởng duy tân, diễn thuyết cổ động cải cách trên nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Chủ trương đổi mới từ nếp sống đến nếp nghĩ, đề cao “học để làm người hữu dụng”, lập hội buôn theo phương châm “phú quốc cường binh”, khuyến khích học chữ mới, mở trường, bài trừ hủ tục, vận động cắt tóc ngắn, mặc áo ngắn, thể hiện tinh thần đổi mới trong từng sinh hoạt đời thường.

Tháng 2 năm Ất Tỵ (1905), Phan Châu Trinh cùng với Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng và Huỳnh Phác Chất lên đường đi vào các tỉnh phía Nam để du ngoạn. Đi đến đâu các ông cũng truyền bá tư tưởng duy tân, cổ xúy dân quyền được nhiều người hưởng ứng. Đến Bình Định gặp ngày khảo thí, họ muốn nhân cơ hội này để tuyên truyền cứu nước. Vì thế, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp cùng ứng thí. Phan Châu Trinh làm bài thơ Chí thành thông thánh, còn Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng viết bài phú Lương Ngọc danh sơn để dự thi, đề bài là do ban giám khảo ra. Cả hai bài được viết chung vào một quyển rồi ký tên Đào Mộng Giác sau đó trình lên ban giám khảo, nhưng đều bị đánh hỏng vì đã thể hiện tư tưởng bài xích khoa cử cùng lối cựu học hủ lậu, nhưng vì giá trị tư tưởng và văn chương nên được mọi người chú ý, đua nhau ghi chép và truyền tụng khắp nơi. Sau đó, các ông lại tiếp tục lên đường vào Nam.

Sau chuyến Nam du trở về, Phan Chu Trinh cùng các bậc thân hào trong tỉnh xướng lập thương hội, trường học. Phong trào Duy Tân đã được phát động rầm rộ không chỉ riêng trong tỉnh Quảng Nam mà cả khu vực Trung Bộ. Thương hội là một hoạt động khá sôi nổi của phong trào, đó là việc làm cần thiết để phát triển kinh tế và giành lại phần nào quyền lợi trong tay ngoại quốc.

Các hội buôn, hội nông, hợp thương lần lượt ra đời tại Phong Thử, Điện Phong, Hội An, Phú Lâm... nhằm khuyến khích người dân phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, tự chủ kinh tế để thoát khỏi tình trạng thương nghiệp lạc hậu, tài chính thiếu hụt để hiện đại hóa thương nghiệp, vừa đảm bảo việc sản xuất quốc nội vừa cạnh tranh với nước ngoài. Thương hội không chỉ tổ chức trong phạm vi tỉnh Quảng Nam mà còn mở rộng ra các tỉnh khác như các thương hội: Hợp thương ở Huế, Triều Dương ở Nghệ An, Công ty Liên Thành ở Phan Thiết… Cải cách vì thế không chỉ dừng ở khẩu hiệu, mà gắn liền với miếng cơm, manh áo và tương lai của mỗi gia đình nông dân xứ Quảng.

Từ thành thị đến thôn quê, Duy Tân dần tạo dựng một không gian xã hội mới, là nơi tri thức, tinh thần trách nhiệm và khát vọng đổi mới lan tỏa sâu rộng. Các sĩ phu, trí thức Quảng Nam mở hàng loạt trường tân học ở khắp làng quê. Trên 40 trường đã ra đời trong phong trào Duy Tân, tiêu biểu nhất là các trường Diên Phong, trường Bảo An, trường Quảng Phước, trường Lạc Thành ở huyện Điện Bàn; trường Phước Bình ở huyện Quế Sơn; trường Quảng Huế ở huyện Đại Lộc; trường Cẩm Toại ở huyện Hòa Vang mà nổi bật nhất là trường Phú Lâm ở huyện miền núi Tiên Phước. Thay vì dạy kinh sử theo lối học Nho giáo lỗi thời, trường được dạy chữ Quốc ngữ, tiếng Pháp, các môn khoa học tự nhiên, xã hội, thủ công, chú trọng tính thực dụng, hướng nghiệp.

Báo cáo của Công sứ Pháp ở Quảng Nam là Eugène Charles gửi Khâm sứ Trung Kỳ Sylvain Lévêque năm 1908 cho biết: “Các buổi họp công khai được tổ chức để các diễn giả dạy cho bọn nhà quê thật thà những cách thức mới để đưa đất nước An Nam đến tiến bộ bằng những con đường chắc chắn... Các bài diễn thuyết thật ra không hề có nội dung phá hoại. Nếu họ có đả kích đôi chút chính quyền của quan lại thì chủ yếu họ vẫn nhấn mạnh yêu cầu học hỏi để tiến tới có thể tự mình cai quản lấy mình, họ ca ngợi nông nghiệp và thương mại như là những phương thức để làm giàu và nhờ đó mà trở nên mạnh. Nhưng chính ở trong những cuộc hội họp đó mà những người lãnh đạo tiếp xúc với dân chúng, làm cho dân quen nghe theo lời khuyên của họ và sau này sẽ tuân theo mệnh lệnh của họ”[5]. Báo cáo này cho thấy người Pháp cũng nhận thấy sức lan tỏa xã hội mạnh mẽ của phong trào.

Còn trong một báo cáo viết vào năm 1909 gửi lên Bộ trưởng Bộ Thuộc địa của Pháp, Toàn quyền Đông Dương Klobukowoky viết: “Hàng loạt thơ ca truyền miệng đã được đưa vào tới các thôn xóm hẻo lánh... Họ đọc thuộc lòng những đoạn thơ ca đượm tinh thần yêu nước, rất kích động. Họ đi khắp nước An Nam, tổ chức các buổi họp bí mật và đọc những điều răn mà khẩu khí hùng hồn của họ đã làm cho thêm phần linh hoạt”[6].

Không chỉ dạy chữ, các trường còn huấn luyện thể lực, rèn luyện ý chí. Báo cáo của Công sứ Eugène Charles ngày 18/1/1908 ghi rõ: “Trong các trường, ngoài việc giáo dục tư tưởng cho thế hệ trẻ, chúng còn được rèn luyện thân thể. Trong các làng ở phủ Thăng Bình và Tam Kỳ, các thanh niên từ 18 đến 30 tuổi tập đi đứng, thao diễn theo kiểu nhà binh với sự huấn luyện của những tên lính cũ được huy động ra dạy...”. Điều này cho thấy, duy tân không tách rời giữa giáo dục, thực hành và huấn luyện tinh thần dân tộc.

Các chí sĩ Duy Tân bị bắt đày đi Côn Đảo năm 1908. Ảnh tư liệu

Nhờ sự kết hợp giữa lý thuyết tiến bộ và hành động thực tiễn, phong trào Duy Tân đã hình thành một mô hình canh tân xã hội toàn diện, từ giáo dục, kinh tế đến đời sống tinh thần. Quan trọng hơn cả, phong trào đã giúp người dân nhận thức được quyền lợi, nghĩa vụ và vị trí của mình trong cộng đồng, từ đó nuôi dưỡng tinh thần tự cường dân tộc làm nền tảng cho các phong trào yêu nước tiếp theo trong lịch sử Việt Nam.

* Tỏa sáng tinh thần Duy Tân

Nhà sử học Trần Huy Liệu đã nhận định về phong trào Duy Tân đầu thế kỷ 20 rằng: “Tất cả mọi khẩu hiệu của phong trào Duy Tân đều đi đến chỗ đề cao lòng yêu nước, đoàn kết vươn lên một thế giới mới. Những quan điểm này khi còn nằm trong đầu óc một số sĩ phu thì cố nhiên là hiền lành, êm ả, không bạo động nhưng khi nó vào với nông dân, những người đang bị khốn khổ vì sưu cao, thuế nặng, vì đi phu đi lính, vì quan lại hảo lý sách nhiễu thì nó không còn ngoan ngoãn nữa, nó phải được phát tiết những căm hờn đang nung nấu, nó phải lồng lên”. Do đó, đã dẫn đến sự bùng nổ của phong trào “xin xâu, kháng thuế” của nông dân năm 1908.

Tháng 3/1908, nổ ra phong trào “xin xâu, kháng thuế” ở các tỉnh miền Trung. Đây là một phong trào nông dân rộng lớn chưa từng có trong lịch sử nước ta dưới thời Pháp đô hộ. Khởi đầu ở Quảng Nam, ngọn sóng tranh đấu tràn ra hầu hết các tỉnh Trung kỳ với một khí thế mãnh liệt. Hàng trăm người mặc quần áo rách rưới, tóc cắt ngắn kéo đến huyện phủ, huyện lỵ, tỉnh lỵ yêu cầu giảm nhẹ sưu thuế. Đoàn biểu tình kéo nhau đến tỉnh đường Quảng Nam ở La Qua, phủ Điện Bàn, quan Tổng đốc không tiếp mà bảo dân đến tòa Công sứ Hội An.

Ngày 11/3/1908, đoàn biểu tình hơn 300 người mà phần lớn là nông dân, bao vây tòa Công sứ Pháp ở Hội An đòi xóa bỏ việc đi xâu, đòi giảm thuế thân và tỏ thái độ không chịu giải tán khi yêu sách chưa được đáp ứng. Công sứ Charles một mặt ra lệnh cho đoàn biểu tình giải tán, một mặt điện báo cho Khâm sứ Trung kỳ Lévêque và Toàn quyền Đông Dương Bonhoure biết để can thiệp bằng vũ lực khi cần thiết.

Ngày 13/3/1908, số lượng nông dân biểu tình bao vây tòa Công sứ Hội An càng tăng và thái độ cũng tỏ ra quyết liệt hơn. Sau đó một bộ phận tỏa đi các phủ huyện để đấu tranh, bao vây phủ đường và tòa đại lý Tam Kỳ, trừng trị Đề đốc Trần Tuệ khét tiếng gian ác không kém gì Đề Soạn, Lãnh Điềm ở các huyện Đại Lộc và Hòa Vang. Sau đó, phong trào này bị thực dân Pháp đàn áp dã man.

Mặc dầu nguyên nhân chính là do áp bức bóc lột của bọn thực dân và cuộc đấu tranh nổ ra ngoài ý thức của các sĩ phu yêu nước đương thời, nhưng phong trào “xin xâu, kháng thuế” cũng chịu ảnh hưởng tác động của phong trào Duy Tân. Nhà cầm quyền đương thời ra tay khủng bố, đàn áp phong trào và trả thù những nhà lãnh đạo của phong trào Duy Tân cũng như những người tham gia phong trào ấy.

Thực tế, sau cuộc kháng thuế 1908, chính quyền thực dân xem phong trào Duy Tân là “nguy cơ” và thẳng tay đàn áp: trường học bị đóng cửa, sĩ phu bị bắt, bị đày, bị xử tử. Dẫu vậy, ngọn lửa duy tân không tắt. Phan Châu Trinh nhận định, đó không phải là bột phát mà là kết quả của việc người dân đã được khai trí, ý thức được quyền sống và công lý, điều mà trước kia họ chưa từng có.

Duy Tân, vì thế không chỉ là phong trào canh tân ôn hòa, mà còn là bước ngoặt tư tưởng, chuyển người dân từ chỗ phục tùng sang tự nhận thức, từ nô lệ sang công dân. Chính từ nền tảng ấy, các phong trào yêu nước sau này có cơ sở quần chúng rộng rãi và vững chắc hơn.

Ngày nay, khi đất nước bước vào giai đoạn hội nhập sâu rộng, tinh thần duy tân vẫn mang giá trị thời đại. Đổi mới không chỉ là cải cách mô hình kinh tế hay công nghệ, mà còn là đổi mới tư duy, ý thức, trách nhiệm của mỗi người.

Hơn một thế kỷ trôi qua, nhắc lại phong trào Duy Tân xứ Quảng là để nhớ về một giai đoạn thức tỉnh vĩ đại của dân tộc, để hiểu rằng mọi canh tân bền vững đều phải bắt đầu từ con người, từ tri thức, lòng yêu nước và tinh thần tự cường.

V.V.H

 

[1] Phan Khoang, Việt Nam Pháp thuộc sử, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa xuất bản, Sài Gòn, 1971, tr. 458-463.

[2] Tên thật là Châu Văn Đạt, tự Trữ, hiệu Thượng Văn hay Thơ Đồng. Chí sĩ duy tân người Minh Hương, sinh năm 1856 tại Hội An (thành phố Đà Nẵng), mất cuối tháng 3 năm Mậu Thân (4-1908) tại Huế.

[3] PGS.TS. Trương Công Huỳnh Kỳ, “Huỳnh Thúc Kháng với phong trào Duy Tân đầu thế kỷ XX”, trong: Huỳnh Thúc Kháng với cách mạng Việt Nam và quê hương Quảng Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2016, tr. 230.

[4] Huỳnh Văn Tuyết, “Quảng Nam - Nơi mở đầu phong trào Duy Tân ở Việt Nam đầu thế kỷ XX”, trong Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, Số 2(111).2017-Quyển 1, tr. 109.

[5] Dẫn theo: Nguyễn Phước Tương, Xứ Quảng - Vùng đất và con người, Nxb Hồng Đức, 2012, tr. 570.

[6] Dẫn theo: Nguyễn Phước Tương, Sđd, tr. 572.