Thái Bảo Dương Đỳnh kể chuyện bằng thơ

Bìa tập thơ Được mất hay khúc ru dâu bể của Thái Bảo Dương Đỳnh.
Thẳng thắn mà nói, có những tập thơ, mở ra chỉ đọc được vài trang rồi xếp lại. Nhưng tập thơ Được mất hay khúc ru dâu bể (NXB Đà Nẵng 2025) của Thái Bảo Dương Đỳnh lại cuốn tôi một cách lạ kỳ. Đặc biệt là, có những bài thơ của anh, tôi không nhớ mình đã đọc đi đọc lại bao nhiêu lần, rồi cứ rung lên những xúc cảm đặc biệt ở mỗi lần đọc lại.
Thái Bảo Dương Đỳnh khéo kể chuyện bằng thơ. Chuyện thì hấp dẫn, lý thú mà thơ thì dịu dàng, sâu lắng, cứ vậy chảy tràn vào tâm can người đọc những tình cảm chân thành cùng giá trị nhân sinh sâu sắc. Tôi cảm giác, mỗi lần cầm bút của anh là mỗi lần đau, là mỗi lần chạm sâu nơi tiềm thức, cộng hưởng với đó là ý thức xã hội được kết hợp cùng ngôn ngữ thơ khá đặc biệt, nên ngọn bút nơi anh thực sự có thần.
Vẫn chưa viết được câu thơ nào,
thưa mẹ
Khi nỗi đau trong con ngập cả linh
hồn
Khi con chít mảnh khăn tang đầu
hàng số phận
Cúc cung quỳ lệ nến nhói lòng đau
(Mẹ ơi)
Chúng ta, ai khi khóc mẹ cũng tan nát lòng. Nhà thơ cũng không ngoại lệ, anh chảy tràn niềm đau trong tuyệt vọng, bởi Khi con chít mảnh khăn tang đầu hàng số phận là khi con người bất lực biết bao trước thực tại tàn nhẫn nơi chốn nhân gian này; và rồi giây phút Cúc cung quỳ là giây giây phút lệ nến nhói lòng đau, bất cứ ai không còn mẹ nữa đều thấy lại chính mình nơi đây. Và cũng chính từ giây phút đó, Khi nỗi đau trong con ngập cả linh hồn, người làm con đã không còn trọn vẹn nụ cười được nữa, linh hồn họ đã thương tích, vết thương sẽ nhói đau bất cứ lúc nào.
Trong khoảng thời gian đó, trong niềm xúc động đó, anh Vẫn chưa viết được câu thơ nào, chưa viết mà đã viết rồi đấy thôi. Cái thần là ở đó.
Rồi từng ngày chị ngồi gắp nỗi buồn
Dọn ra muôn ngàn nỗi nhớ
Món nào cũng cay Món nào cũng mặn
Chỉ có nước mắt rưới lên từng
dang dở
Chị chan trong chiều cả gió
(Một bóng dỗi hờn)
Đây là nỗi lòng người vợ trẻ khi chồng chinh chiến và không cơ hội để quay về, nỗi nhớ chồng đau đáu. Tác giả ẩn dụ niềm thương nỗi đau trong từng sinh hoạt đời thường, đến bữa ăn cũng là Dọn ra nỗi nhớ nên cứ phải gắp nỗi buồn, để rồi Món nào cũng cay, món nào cũng mặn. Cái tài ở đây là cách anh miêu tả, nó khiến cho sự hiểu và cảm nơi người đọc được tròn đầy, như kiểu Chim quyên lẻ bạn một mình thở than (ca dao), người đọc từ đó mà cảm thương quyện cùng nhân vật, để thấm thía hơn nỗi đau mất chồng của người chinh phụ: Chỉ có nước mắt rưới lên từng dang dở/ Chị chan trong chiều cả gió. Không gian, thời gian cũng ngậm ngùi cùng chị, nỗi đau vì thế nhân đôi.
Sinh ly tử biệt luôn là mất mát không gì bù đắp được, dẫu có bao nhiêu hiểu biết về cái được gọi là vô thường, thì khi đứng trước hiện thực đó, trái tim của bất kỳ ai cũng đớn đau và mềm nhũn.
Đốt nén nhang trầm nhìn di ảnh
Trời ơi, trẻ quá. Trời ơi! đau
Cười chi tia mắt đôi dòng lạnh
Ngó xuống đời nhau những
mặt nhàu
(Rượu uống bây giờ chắc
chẳng ngon)
Thơ mà như nói, nói mà thành thơ. Thán từ Trời ơi! đã đủ để dung chứa nỗi đau mất đi người em thân thiết. Khi kêu trời, là khi con người đã tận cùng đớn đau. Và cả khi tưởng chỉ khóc thương, ẩn nơi đây còn là nỗi niềm cuộc sống: Ngó xuống đời nhau những mặt nhàu - một kiểu trần tình chua chát về hiện thực, về những mặt tối, những khó khăn mà ai ai cũng phải ít nhất một lần đối diện trong đời. Niềm trắc ẩn, nỗi ngậm ngùi cứ vậy mà tràn sang người đọc bằng kiểu liên tưởng đặc trưng gợi tả, rất điển hình và cũng rất ám ảnh.
Nói về đấng sinh thành, tình yêu và sự hy sinh nơi họ chưa bao giờ là đủ, nó vô biên: Lặng thầm như nhánh sông xa/ Lở bồi bòn đãi phù sa nhọc nhằn/ Bán mưa nắng, mua trăng rằm/ Về treo lên tận chỗ nằm cho con (Bán mua). Ở đây, người thơ và truyện thơ đã phối hợp nhịp nhàng rồi dựng nên một nhánh sông xa lay động lòng người. Nhánh sông ấy đã tháng ngày âm thầm bồi đắp, miệt mài bòn đãi để tất cả những gì có được là dành cho con cái của mình. Mà phải là Về treo lên tận chỗ nằm cho con mới yên tâm được. Cách tả thực đầy hình ảnh, cách ẩn dụ tinh tế, tác giả đã khôn cùng về đức hy sinh của người làm cha. Rồi: Chỉ mong được thấy con cười/ là vuông tròn được cuộc người nơi ba (Bán mua), tình cha thiêng liêng, vĩ đại là thế, con cười, con hạnh phúc, thế là đủ, là đã mãn nguyện kiếp người.
Nhưng có gì là mãi mãi? Vô thường mà, mỗi phút giây là mỗi sự đổi thay:
Chừ thì vườn cũ chỉ còn là kỷ niệm
Ba mẹ chân trời mây trắng bay xa
Vuông sân nhỏ cỏ đan cài nỗi nhớ
Anh một mình nhìn thương nhớ qua
(Em gái ơi, hoa mai đã vàng nơi
vườn cũ)
Ở đây, không chỉ có cái đẹp của ngôn từ, của nhịp điệu thi ca dìu dặt. Ở đây, còn là vẻ đẹp quý báu của tình cảm gia đình trong tâm hồn mỗi người. Nỗi ngậm ngùi, bi ai của sự chia lìa là không tránh khỏi, chỉ là sớm hay muộn. Nên hãy nâng niu, gìn giữ khi còn có thể, phải chăng đó là thông điệp mà nhà thơ muốn gởi đến chúng ta?
Vậy mà:
Có hay quê nhà mưa lùa thổi tạt
Khoắc khuya một bóng nhai trầu
(Lung linh cuộc người)
Nghe mà cứ thăm thẳm một nỗi buồn, về sự vô tình vẫn ẩn hiện khắp nơi trên chốn trần gian này. Về những giấc mơ xa, nhưng lại quên đi những quý báu gần, “Khoắc khuya một bóng nhai trầu” là lối miêu tả hoán dụ đầy hình tượng, cũng đầy nỗi trăn trở về hình ảnh những bà mẹ cô đơn, lầm lũi trong căn nhà mưa lùa gió tạt nơi miền quê. Nhà thơ đã linh hoạt trong diễn tả ý bằng lối độc thoại ấn tượng, làm bật dậy chiều sâu tư tưởng tác phẩm.
Chừ thì hết rồi mọi thứ sẽ vùi chôn
Giọt nước mắt muộn màng nhiều
khi chỉ là trò ngụy tạo
Thanh thản bước qua cầu quên đi
cõi nhân gian phiền não
Nghe ngọn gió quê nhà vuốt mặt
những đêm sâu
(Cuộc đau)
Đi đâu, đến đâu rồi thì quê nhà vẫn là nơi bình yên mỗi lúc quay về. Rồi khi buộc phải bước qua cầu để quên đi cõi nhân sinh phiền não, thứ mà lúc đó người ta thèm khát lại là ngọn gió quê nhà, con người trong muôn ngàn lựa chọn đúng sai thì lựa chọn cuối cùng là được vuốt mặt bởi ngọn gió quê nhà. Cái khao khát được “lá rụng về cội” ấy nó ý vị và sâu sắc làm sao, nó khai mở về thế giới nội tâm sâu kín mà con người ngày thường vẫn luôn che giấu. Tình quê trong thơ anh là vậy, rất dịu nhẹ mà đằm sâu, da diết. Từ ngữ sử dụng gần gũi mà tinh tế, như cái chất của quê vậy, bình dị mà thiêng liêng. Cách tạo nhịp, ngắt dòng thì phóng khoáng, hiện đại nhưng luôn đảm bảo tính nhạc, tạo nên những thanh âm dìu dặt rất đỗi truyền thống. Và đó cũng chính là văn hóa cội nguồn dân tộc.
Nói về tình chồng vợ, nhà thơ đúc kết ngắn gọn: Em thương chồng quăng nhan sắc qua bên/ Xắn tay áo bước lên chung tay gầy độ (Dại yêu). Động từ quăng, xắn tay áo… đã nói lên tất cả: tấm lòng, đức hy sinh và cả quyết tâm của người đàn bà khi yêu, khi xây dựng gia đình. Chắc bởi tại là đàn bà, tôi thích câu thơ này đến lạ lùng, nó là minh chứng đanh thép về sức mạnh tiềm ẩn của phái yếu, sức mạnh của người phụ nữ Việt. Lời thơ còn là những chất chứa tâm trạng và sự biết ơn nơi người chồng dành cho vợ của mình, điều mà bất cứ người đàn bà nào cũng khao khát. Thơ vì thế mà trở nên đời, gần gũi và xúc động.
Cái quý nhất trong cuộc đời là ta đã
có nhau
Cùng san sẻ yêu thương, cảm thông
độ lượng
Những vấp váp, những hồ nghi,
chấp niệm
Có nghĩa gì. Tay vẫn nắm tay nhau!
(Dại yêu)
Yêu, nên vợ thành chồng, rồi trải cùng thăng trầm buồn vui cuộc sống, có vợ chồng nào mà chẳng lúc sóng xô, với Những vấp váp, những hồ nghi, chấp niệm nhưng điều quan trọng vẫn là Cùng san sẻ yêu thương, cảm thông độ lượng để mọi nghịch cảnh, tai ương đều trở nên vô nghĩa khi mà họ cuối cùng Tay vẫn nắm tay nhau!. Đó mới thực sự là yêu, là nghĩa tình chồng vợ sắt son. Cảm xúc của nhà thơ hay của nhân vật trữ tình đã dịch chuyển theo cung bậc cảm xúc của độc giả, nó chạm vào những khát vọng chân thật của đời người, khát vọng hạnh phúc, chứ không phải: Con người cứ chen lấn lao đi rồi vội vã biến thành tro/ Đồng tiền lên ngôi vương đánh bay đi mọi thứ/ Gã trọc phú trên bục cao nói những điều ứ hự/ Những từ ngữ lợm ngôn lóng lánh dấu kim tiền (Xin ơn đời mãi còn gọi tên nhau).
Dù biết rằng rồi vội vã biến thành tro nhưng con người cứ chen lấn khi mà đồng tiền lên ngôi vương đánh bay đi mọi thứ. Hiện thực xã hội khúc xạ trong thơ anh, nó vang hưởng những thanh âm của đời sống trần trụi, kiểu sống bị chi phối mạnh mẽ bởi vật chất để rồi con người dần rời xa những thiện lương, thậm chí đánh đổi vật chất bằng những điều ứ hự với cả những lợm ngôn, từ ngữ được dùng vừa chân phương vừa bao quát, gợi ra những trường nghĩa phía sau, mặt trái xã hội từ đó mà lộ diện. Đó cũng là cảm quan nhà thơ về hiện thực cuộc đời.
Và nói đến cuộc đời, là nói đến vô cùng những nhân tình thế thái, những dâu bể đời người:
Thế giới đang mở ra những biên độ
vô cùng
Con người bất ngờ khép lại
Sự cô đơn dâng lên từng phút từng
ngày
Trong sự đủ đầy đến thừa mứa
(Xin ơn đời mãi còn gọi tên nhau)
Phép đối ngữ và cả đối ý đã giương dây cung nghĩa cho những vần thơ căng cứng, nó đẩy cái nhìn đến cực điểm về mối quan hệ giữa con người và thế giới, giữa con người và con người trong một thời đại mà ai cũng phải thừa nhận rằng là cực văn minh. Nhưng buồn thay, lại cực nhạt tình, con người co lại trong thế giới của riêng mình, thế giới của sự cô đơn cùng cực. Và cả sự hồ nghi, vô cảm đến đau lòng: Mỗi ngày chúng ta ló ra từ chiếc hang sang trọng của mình với khẩu trang bịt kín/ Lòng chứa những hồ nghi trong lấm lét mắt nhìn/ Nghe tiếng khóc bên đường cũng thản nhiên bước đi câm nín/ Cứ sợ những chiếc bẫy giăng ra nơi góc phố con đường (Xin ơn đời mãi còn gọi tên nhau).
Đây rõ là hiện thực xã hội trong thời hiện đại, và nếu suy ngẫm một chút, sẽ thấy ở đây là cả sự kêu gào thống thiết về đạo đức con người, về sự vô cảm đang ngày một lớn, gợi những liên tưởng về mặt tối xã hội. Nơi đây, vừa là cái nhìn chủ quan nhưng cũng vừa là tư tưởng tác giả, chất chính luận trong thơ vì thế mà trở nên thuyết phục.
Bạn và tôi và tất cả chúng ta đều
hiểu rằng
Mọi cái đều có giá của nó
Kể cả tự nhiên!
(Khi chúng ta đi qua)
Nhịp thơ linh hoạt và rắn rỏi, biểu hiện một nội lực mạnh mẽ và cái nhìn của nhà thơ về cuộc đời, về cái giá phải trả cho mọi sự lựa chọn. Lời thơ vừa dẫn giải, vừa tự sự tác động đến cảm xúc và lý trí người đọc về sự minh triết trong thái độ sống, và cả sự biết ơn, bởi Để có mùa xuân đầy xôn xao cỏ hoa/ Chúng ta phải đi qua một mùa thu lá vàng/ Và mùa đông lạnh giá/ Không có gì hồn nhiên mà có/ Hồn nhiên sinh ra/ Chỉ có vinh quang của đắng cay là cội nguồn của hạnh phúc (Khi chúng ta đi qua). Quy luật của cuộc đời này, của kiếp người từ xưa đến nay đều bất biến, ta gieo gì thì ắt sẽ gặt đó, không gì hồn nhiên mà có cả.
Tôi không giận hờn, không trách móc, không băn khoăn
Bởi tôi hiểu mọi lý lẽ trong cuộc đời này đều không có giá trị
Khi chúng ta không còn yêu nhau Không còn tôn trọng
Và, chiến tranh là lý lẽ điên cuồng Hằn sâu những vực thẳm
(Bài giã từ)
Nơi tình yêu thương giữa người và người không còn tồn tại, nơi ánh sáng của đạo nghĩa và sự chân chính đã lụi tàn thì tất yếu sẽ là chiến tranh… Chiến tranh, nơi chỉ có thương đau và Hằn sâu những vực thẳm. Bằng cấu trúc ngôn ngữ logic, nhà thơ đã mở ra một thế giới hiện thực tàn khốc và việc chọn cho mình một giá trị sống thế nào? Thì người đọc sẽ tự đóng lại trong sự tự ngẫm vậy.
Thế giới là của chung mọi người chứ không phải do một thánh nhân nào cai quản
Mọi lý thuyết đều mơ hồ tương đối vỗ về nhau
Nhưng dĩ nhiên để khỏi ngã những chuyến tàu
Thì cần có những đường ray cố định Đừng huyễn hoặc mưu cầu về vai
trò mà rao giảng
Nhân loại đã quá đủ đầy những trải nghiệm đắng cay
(Bạn được đề nghị gỡ bài trên FB)
Nhà thơ sử dụng ngôn ngữ đầy sắc thái biểu cảm cùng những hình ảnh ẩn dụ biểu tượng, nhạc tính và đậm chất triết luận. Người đủ trải nghiệm sẽ thấy nơi đây một sự thông tuệ, một quan điểm sống hết sức rõ ràng. Và cũng từ hiểu đời, hiểu thời cuộc mà nhà thơ cũng rất đỗi hiểu mình: Cuộc người là cuộc phù vân/ Níu xa xôi với níu gần làm chi (Biết mình). Để rồi:
Xin cúi lạy tạ từ hồn thiêng sông núi Việt
Nỗi ân hận tận cùng xấu hổ đấng nam nhi
Thân vô dụng không làm điều lẫm liệt
Buổi đất nước lâm nguy tà đạo lỗi nghì
(Vẹn tất lòng trung hay là lời cuối của chí sĩ Phan Bá Phiến)
Mượn hình ảnh của người chí sĩ, cũng là để nói lên chí khí chính mình, ngẫm thân nam nhi trước nước nhà mà cả thẹn khi chưa thể làm được điều lẫm liệt. Từ những dằn vặt, tự vấn về thân vô dụng đến tà đạo lỗi nghì thì cốt khí người thơ đã hiển nhiên mà hiển lộ, đáng trân quý, cảm phục.
Con người không ai có thể chẻ sợi tóc ra làm đôi nhưng nỗi muộn phiền thì có thể
Đừng tự đày ải cuộc đời mình bằng những suy nghĩ vô minh
Trước ngang trái xin giữ lòng bình tĩnh
Trước đớn đau xin nghĩ đến thân mình
(Bạn có nghe sợi tóc rụng kêu đòi)
Cõi tạm nhiều phiền nhiễu, nhiều điều bất như ý và cả những chênh chao, nhưng không thể vì thế mà buông xuôi hay chấp nhận quên bỏ bản thân mình. “Thân thể phát phu, thụ chi phụ mẫu” - thân thể là do cha mẹ ban cho, quý báu vô cùng, giữ gìn tốt cho sức khỏe của mình cũng là điều hiếu thảo đầu tiên. Đến sợi tóc rụng còn biết kêu đòi thì dẫu có đứng trước muôn vàn cay đắng cũng phải giữ lòng bình tĩnh và nghĩ đến thân mình để trước là trọn đạo làm con, sau là giữ đạo làm người. Lời thơ như lời khuyên, như lời động viên con người vững lòng trước nghịch cảnh. Tinh thần nhân đạo từ đó mà tỏa sáng, câu chữ gần gũi lại vô cùng sâu sắc, thật là một tứ thơ đẹp.
Trong các tập thơ Thái Bảo Dương Đỳnh đã xuất bản thì Được mất hay khúc ru dâu bể là những khúc ru giàu cảm xúc, da diết và sâu lắng, nhắc nhở về những vô cùng được mất của kiếp người, những hư thực giữa nhân sinh. Trong gia tài thơ của anh cũng không thiếu những vần thơ mang giọng điệu trữ tình riêng biệt, lúc như trần tình, khi như tâm sự, lại lúc như lời thì thầm với chính mình; làm nên những hình tượng đẹp, những câu chuyện thơ dạt dào cảm xúc và ấn tượng. Nói như R.Gamtatov - nhà thông thái phương Đông trong văn học, “Chim ưng bay ngược gió, cá bơi ngược dòng. Nhà thơ làm thơ khi đón nhận những cảm xúc mạnh mẽ, những cảm xúc nhiều khi không phải niềm vui sướng mà là nỗi đau”...
B.B