Bản hòa âm của đất trời và lòng người

Trong lời giới thiệu ở đầu sách, những người tuyển chọn và tổ chức bản thảo đã gọi tuyển thơ Bản hòa âm là một “bản hòa âm của đất trời và lòng người”. Có thể nói, sự định danh này không chỉ mang tính biểu tượng mà còn là một gợi ý, cũng chính là một đúc kết, một khái quát thi pháp, nhằm chỉ ra rằng: tuyển thơ như một bản giao hưởng đa thanh, nơi nhiều giọng điệu, nhiều thế hệ, nhiều phong cách cùng gặp nhau trong một trường cảm xúc chung - tình yêu xứ sở, tình yêu con người, và niềm tin vào cuộc hội tụ mới của thời đại, của lịch sử, của văn hóa xứ Quảng, của vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng thân yêu.
Có thể thấy, điểm chung nổi bật nhất của tuyển thơ Bản hòa âm là cảm hứng trở về. Trở về quê nhà, trở về ký ức, trở về với những giá trị căn cốt của đất và người xứ Quảng. Ở đó, có thể là nỗi nhớ quê được khơi lên từ “chớp bể mưa nguồn”, như trong thơ của người con xa quê Mai Bá Ấn: Quê ủ trong tim/ đi về trong muôn trùng nhớ/ dãy núi Răng Cưa thấp thoáng mây trời/ con sông Trầu/ ôm những cánh đồng xanh/ dậy hương nếp bầu Tam Mỹ (Quê nghèo một thuở). Những hình ảnh, địa danh cụ thể trong bài thơ (núi Răng Cưa, bến Bà Dày, sông Trầu, chùa Phú Sơn...) đã định vị, tạo nên một không gian để neo, để “ủ” quê nhà trong tim, để khẳng định rằng, quê không chỉ là nơi chốn mà là men ủ của ký ức.
Ở nhiều bài thơ khác trong tuyển tập, ký ức trở thành phản xạ bản thể, đầy day dứt. Có người Trở về vấp tiếng ầu ơ/ Câu ca mẹ hát theo bờ tha hương (Hồn quê - Lê Văn Ri). Có người Vấp vào đâu cũng nhớ..., thảng thốt, chao chát, để rồi giật mình nhận ra: Biết ta qua rồi trẻ nhỏ/ Muôn đời/ Neo mãi bóng hình quê (Đom đóm đêm hè - Tịnh Bình). Có người cuống quýt chạy đua với thời gian chỉ vì một thôi thúc “trở về”: Phải kịp về thôi trước giờ chiều tắt/ tóc mẹ bay bay/ khói tỏa trắng trời/ chờ em nhé những đồi xưa sim tím/ dẫu ngày về còn chút bụi tro rơi (Đua với ráng chiều - Nguyễn Nhã Tiên). Thậm chí, chỉ một câu tự vấn đầy thao thức của một người con gái lấy chồng xa cũng làm nên cả một cuộc trở về đầy yêu thương ngay thời khắc chuyển giao của đất trời: Tết đã về trong căn bếp mẹ chưa?/ Lửa đã reo dưới đáy nồi đáy chảo?/ Con vun lửa bếp nhà chồng chợt nghĩ/ Tết năm nay ai cùng mẹ bóc hành?... (Tết đã về trong căn bếp mẹ chưa? - Vũ Thị Huyền Trang).
Quê hương, trong không gian thơ của Bản hòa âm, vì thế không chỉ là điểm xuất phát, là nơi để ra đi và trở về, mà còn là nơi neo đậu căn tính. Ở đó, mọi thứ vẫn luôn thân thuộc, gần gũi: Y như... ngõ cũ đường quê/ Y như... ngan ngát bốn bề hoa giăng (Y như... - Lê Thị Kiều Chinh).
Và, quê hương, trong không gian thơ của Bản hòa âm, không chỉ là hình sông thế núi, mà còn có, còn là hình ảnh của các đấng sinh thành - những biểu tượng của gốc tích, cội nguồn, như trong mấy câu thơ của Nguyễn Nhã Tiên, của Vũ Thị Huyền Trang vừa dẫn ở trên. Những cực nhọc, tảo tần cũng thành nỗi nhớ, trong suốt và rưng rưng: cứ vậy vác cày đi như vác một tình yêu/ vác một chiêm bao bữa cơm đầy chén/ vác một thiêng liêng như là tín ngưỡng/ cha vác cuộc đời cha nông sâu theo những rãnh cày (Đôi bạn - Nguyễn Đức Dũng). Và hơn hết, cha mẹ là quê hương, là máu thịt, không thể dứt ra được; là những bài học lớn, là nguồn cội của yêu thương: Cha mẹ đã sống những đời nước chảy/ Lòng không vướng víu mất còn/ Buổi chiều ráp con vào thương nhớ/ Giọng hát ru từ nghìn xưa thức dậy (Thì thầm Vu Gia - Trương Thị Bách Mỵ). Và đâu đó, mẹ - quê hương luôn “dang rộng vòng tay” ôm ấp, chở che và đón những đứa con xa trở về: Mẹ hiền dang rộng vòng tay/ Đón con như thể những ngày còn thơ
(Tình quê - Cao Xuân Hiệu).
Trên nền của không gian ký ức, trong Bản hòa âm, không gian thực cũng được mở rộng, tạo nên những chiều kích địa - văn hóa vừa bao quát vừa gần gũi, vừa có tính kết nối: Quê hương ngày đi tới/ Sóng thượng nguồn Ngọc Linh/ Bừng thức sông Hàn lấp lóa/ Tâm hồn lưu dấu/ Quảng Nam xanh! (Sóng xanh - Thảo Nguyên). Nhiều địa danh, sự vật được nhắc đến. Từ những cánh rừng mơ Tây Bắc đến miên man mắm, đước Cà Mau: Xuôi phương Nam về đất Mũi người ơi!/ Cờ Tổ quốc tung bay giữa hương tràm, rừng đước (Hương xuân dọc miền Tổ quốc - Duy Hoàn). Từ thâm u rừng già Trường Sơn tới những đảo xa: khói hương tháng Ba nao nức/ ngan ngát một miền Lý Sơn (Với Lý Sơn - Nguyễn Tiến Nên). Từ những chiếc khóa trên cây cầu tình yêu bên sông Hàn đến những chiếc đèn hoa đăng trên sông Hoài cổ tích: Từng dải hoa đăng lung linh/ Chầm chậm sông Hoài/ Thu cổ độ (Haiku Hội An - Đỗ Thượng Thế)...
Nhiều tên gọi được “kể” ra, song không hề có cảm giác của sự thống kê cơ học mà là sự đan kết của tâm hồn... Để rồi, mọi thứ đều trở nên đẹp lộng lẫy, quyến rũ theo một cách rất riêng, như một Sơn Trà lung linh nắng/ đón đàn chim chao mình nghiêng cánh/ tìm về (Vũ điệu biển - Ngô Liên Hương). Để rồi, mỗi địa chỉ, mỗi tên gọi đều hóa thành tình yêu và nỗi nhớ: Tây Giang ơi biết bao là thương nhớ/ Thương bản sương giăng/ Nhớ chiều đỉnh Quế/ Đêm lửa bập bùng, men rượu xanh lên (Tây Giang thương nhớ - Nguyễn Kim Thịnh).
Bản hòa âm là tập thơ của ký ức, của sự trở về, hội tụ và khai mở; là tiếng nói đồng điệu, chan hòa... khi Quảng Nam và Đà Nẵng về chung một nhà trong một mạch nguồn vốn chưa bao giờ tách rời trong lịch sử, văn hóa và tâm thức con người xứ Quảng. Bản hòa âm là tiếng nói thơ ca về sự “trở về” ấy, góp thêm một sự minh định, rằng nơi đây không có ranh giới bị xóa bỏ, chỉ có những mạch cảm xúc được khơi lên và nối dài thêm. Và, ở một mức độ nào đó, tuyển thơ này cũng cho thấy sự tiếp nối bền bỉ của mạch trữ tình quê hương, cạnh đó là nỗ lực cách tân ở một số tác giả, tạo nên sự dung hòa rất đáng quý, rất nhuần nhuyễn giữa truyền thống và hiện đại trong cùng một chỉnh thể.
Và, Bản hòa âm, vì thế không chỉ là một tuyển thơ mà còn là một bản hòa âm - như chính tên gọi của nó. Ở đó, có tiếng kèn Saranai, tiếng trống Paranưng huyền thoại; có nhịp chiêng vang xa đến mấy quãng rừng thôi thúc gái trai hòa nhịp tâng tung da dá; có làn điệu dân ca bài chòi mộc mạc mà say mê; có tiếng trống Janggu“nối nhịp yêu người”; có tiếng sóng biển vỗ miên man Sơn Trà, Tam Hải... Tất cả hòa lại thành bản giao hưởng của đất trời, của lòng người, của mùa xuân, của quá khứ và tương lai, của tin yêu và hy vọng... trên một vùng đất đang chuyển mình nhưng vẫn giữ nguyên căn cốt.
P.C.A