Không gian của yêu thương và kết nối

Có ý kiến cho rằng, những tập sách viết về một vùng đất cụ thể nào đó thường mang ý nghĩa không chỉ như một tập hợp sáng tác mà còn như một “bản đồ văn hóa tinh thần” của địa phương ấy. Tuyển tập bút ký, tản văn Đà Nẵng - Đến để thương, đi để nhớ là một trường hợp như vậy. Bởi, không chỉ mô tả, phác dựng hình dáng một đô thị ven biển đang chuyển mình mạnh mẽ, tập sách này còn khắc họa sâu sắc hệ sinh thái văn hóa - lịch sử - con người của vùng đất Quảng - Đà. Bởi, cùng với sự khác biệt về đặc trưng thể loại (bút ký, tản văn, ghi chép), tập sách còn là một tập hợp đa sắc, đa thanh khi mà mỗi tác giả góp vào đấy một giọng riêng, một góc nhìn riêng về Đà Nẵng...
Điểm đáng lưu ý và cũng nổi bật nhất của tuyển tập Đà Nẵng - Đến để thương, đi để nhớ là cách nhìn Đà Nẵng không chỉ như một không gian địa lý mà còn như một thực thể văn hóa sống động; là cách đặt Đà Nẵng trong mối liên hệ giữa không gian phát triển mới với lịch sử mở cõi và giao thương của dân tộc. Chính cách nhìn ấy làm cho tập sách vừa mang tính tư liệu văn hóa, vừa giàu cảm xúc nghệ thuật.
Trong bút ký “Cửa Hàn - Dấu ấn từ thiên lý Bắc Nam”, tác giả Vũ Ngọc Giao khéo léo gợi lại vai trò của Đà Nẵng như một cửa ngõ chiến lược của miền Trung. Không gian địa lý của Đà Nẵng được khắc họa như một sự hội tụ hiếm có của núi - sông - đồng - biển, từ Hải Vân hùng vĩ, Bà Nà mát lành đến Hội An cổ kính, Ngũ Hành Sơn linh thiêng. Thành phố hiện ra vừa cũ xưa vừa hiện đại, vừa là không gian địa lý đặc biệt vừa là nơi tích tụ nhiều lớp trầm tích văn hóa... Các bút ký “Đi qua miền đất thiêng” của Nguyễn Thành, “Tiếng vọng miền ký ức”của Long Vân,“Thiên hạ đệ nhất hùng quan” của Trần Thiên Hương vừa giàu tư liệu vừa giàu cảm xúc, ánh lên những hồi quang đẹp về sinh hoạt, đời sống của người xứ Quảng, về sự giao thoa, tiếp biến kỳ lạ của văn hóa... Để rồi, sau dấu chấm câu cuối cùng của mỗi thiên bút ký, người đọc nhận ra được rằng, lịch sử xứ Quảng - Đà Nẵng không chỉ là câu chuyện của một thành phố mà còn là một phần lịch sử - ký ức của vùng đất. Ở đó, Đà Nẵng dường như chưa bao giờ và không thể tách rời khỏi vùng văn hóa xứ Quảng. Những địa danh như Hội An, Chiên Đàn, Gò Nổi, sông Thu Bồn, sông Cổ Cò, Hải Vân, Sơn Trà… xuất hiện trong nhiều bút ký, tản văn, tạo nên những mắt xích kết nối quá khứ - hiện tại - tương lai, minh định rõ hơn sự hội tụ các dòng chảy của lịch sử mở cõi, dựng xây và phát triển.
Bên cạnh những bút ký khai thác chiều sâu trầm tích của vùng đất thì ở một hướng khác, lại có không ít những bút ký, tản văn tập trung khắc họa hình ảnh con người và nhịp sống của Đà Nẵng trong các giai đoạn khác nhau. Các bút ký “Hoa bàng vuông trong gió” (Thùy Dương Hoàng Thị), “Về với Điện Bàn Đông” (Nguyễn Tiến Nên), “Chàng trai kiên trung làng Quý Thượng” (Quế Hà) là những câu chuyện kể chân thực, sinh động và giàu cảm xúc về cái cách người Đà Nẵng khẳng định phẩm giá của mình. Đó là những người từng đi qua chiến tranh, chịu cảnh tù đày hay nếm trải những tháng năm gian khó nhưng vẫn giữ vững niềm tin và lý tưởng, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của đất nước... Trong khi đó, các tản văn, bút ký “Ngát nồng phù sa Gò Nổi”, “Nhớ Đà Nẵng” (Nguyễn Bội Nhiên), “Giấc mơ trên dòng sông Hàn” (Bùi Cẩm Trúc), “Khoảnh khắc Bà Nà”, “Hội An thương nhớ” (Bùi Minh Vũ) đem đến những góc nhìn lạ và đẹp về xứ Quảng, về Đà Nẵng - phố, Đà Nẵng - người. Tác giả của những bút ký, tản văn này đều không phải là người Đà Nẵng nhưng mỗi trang viết, mỗi câu chữ của họ đều đầy ắp thương yêu, thân thuộc, gụi gần, thiết tha như máu thịt. Ở đó, ký ức cá nhân và trải nghiệm sống được tái hiện, trở thành chất liệu và nguồn cảm hứng nghệ thuật, để mỗi câu chuyện kể trở nên mềm mại hơn, đẹp hơn, đáng nhớ hơn, như trong suy ngẫm của Bùi Minh Vũ trong “Khoảnh khắc Bà Nà”: “Có những nơi ta đến không chỉ bằng đôi chân mà bằng cả tâm hồn, và có những hành trình không kết thúc khi ta rời đi, mà chỉ mới bắt đầu, bắt đầu trong ký ức, trong những giấc mơ, trong cách ta nhìn thế giới sau đó”.
Ở “cự ly” gần hơn, một số tác giả Đà Nẵng cũng khiến người đọc thích thú trước những phát hiện mới mẻ của họ. Vẫn là một bài viết về con sông Tiên chảy ngược, nhưng tản văn “Sông vẫn chảy đời sông” của Nguyễn Thị Diệu Hiền không hề cũ bởi hòa trong ngàn vạn mạch ngầm giữa lòng đất góp phần làm nên sông là những trải nghiệm, những bài học về sự sống, về cuộc đời. “Trăng thượng tuần trên sông” của Lê Đức Thịnh không chỉ là chuyện trăng sao sông nước mà còn là chuyện sống xử ở đời. “Sơn Trà nơi vẻ đẹp song hành” của Đoàn Hạo Lương; “Rộn ràng đêm Đà Nẵng” của Nguyễn Thị Thu Thủy thì cuốn hút bởi những chi tiết rất thật, rất sinh động của nhịp sống, của thiên nhiên.
Với việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính xác thực của tư liệu với tính biểu cảm của văn chương, 27 bút ký, tản văn trong Đà Nẵng - Đến để thương, đi để nhớ đã tạo nên một câu chuyện có kết cấu mở, sinh động, giàu chi tiết, dồi dào dư địa để người đọc cảm nhận, ngẫm ngợi và đồng sáng tạo. Cũng vì thế, Đà Nẵng - Đến để thương, đi để nhớ không chỉ là một tuyển tập bút ký - tản văn đơn thuần mà còn là một địa chỉ của yêu thương, một không gian của kết nối và sáng tạo, một nơi chốn để ký ức, lịch sử và khát vọng tương lai cùng quyện hòa, tuôn chảy... H.T