Phan Châu Trinh - Nhà thơ đất Quảng

31.03.2026
Bùi Văn Tiếng

Phan Châu Trinh - Nhà thơ đất Quảng

Tuyển tập Trăm năm thơ Đất Quảng tuyển chọn, giới thiệu 12 thi phẩm của Phan Châu Trinh.

Trong tuyển tập Trăm năm thơ Đất Quảng do Giáo sư Nguyễn Văn  Hạnh  và  Hồ  Thanh  Hải đồng chủ biên (NXB Hội Nhà văn, 2005), trong số 166 nhà thơ nhiều thế hệ có thi phẩm được tuyển chọn, nhà thơ Phan Châu Trinh  xếp  thứ 14 theo tuổi tác của thế hệ đầu và được đánh giá là “một nhà thơ đầy tài năng và giàu sức sáng tạo” (trang 252), với 12 thi phẩm đậm dấu vân tay của Tây Hồ, gồm các bài thơ Kinh thành Nguyên đán (Tết Nguyên đán ở kinh thành), Giáp Thìn kinh thành cụ phong (Trận bão năm Giáp Thìn ở kinh đô), Chí thành thông thánh (Lòng chí thành cảm đến thần thánh), Phan Thiết ngọa bệnh (Nằm bệnh ở Phan Thiết), Ất Tỵ trừ tịch tác (Đêm trừ tịch năm Ất Tỵ), Điếu Giải nguyên Nguyễn Hữu Huân, Xuất đô môn (Ra khỏi cửa đô thành, sáng  tác  ngày  24  tháng 4 năm 1908, sau khi bị giải qua cửa Thượng Tứ để đi đày Côn Lôn - nay là đặc khu Côn Đảo thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), Đập đá ở Côn Lôn, Côn Lôn tức cảnh, Cảm tác lúc bị giam ở ngục Santé; trường ca Tỉnh quốc hồn ca (trích đoạn mở đầu phần sáng tác năm 1906) và truyện thơ Giai nhân kỳ ngộ diễn ca (trích ba đoạn U Lan kể chuyện nước Tây Ban Nha, Hồng Liên kể chuyện nước Ái Lan Hồng Liên ca cho Tán Sĩ nghe). Nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất Phan Châu Trinh (24/3/1926 - 24/3/2026), bài viết này đi sâu tìm hiểu về nhà yêu nước Phan Châu Trinh với tư cách một người lao động nghệ thuật, sáng tạo văn chương.

*

 Nhà yêu nước Phan Châu Trinh từng giữ chức Thừa biện Bộ Lễ ở kinh thành Huế khoảng hai năm, bắt đầu từ năm Quý Mão 1903. Thời gian này, ngoài việc thực thi  công vụ, quan Thừa biện Bộ Lễ Phan Châu Trinh còn làm hai việc liên quan đến văn hóa - một là đọc sách, đúng hơn là đọc tân thư và hai là… làm thơ. Tuyển tập Trăm năm thơ Đất Quảng có tuyển chọn hai bài thơ Phan Châu Trinh sáng tác trong thời điểm này: Kinh thành Nguyên đán Giáp Thìn kinh thành cụ phong. Thời điểm Giáp Thìn thì rõ rồi, đó là năm 1904, niên hiệu Thành Thái thứ 16. Trận bão này diễn ra vào ngày chủ nhật 11 tháng 9 năm 1904 nhằm ngày mồng 2 tháng 8 năm Giáp Thìn trên địa bàn kinh đô Huế và các tỉnh ven biển từ Quảng Trị đến Nghệ An - sức gió mạnh đến mức đã thổi văng bốn vài cầu Thành Thái/ Trường Tiền vừa mới khánh thành xuống sông Hương. Câu đề “Cẩm tú giang sơn vọng nhãn hồ” (Giang sơn gấm vóc trông ra chỉ thấy mịt mờ) không chỉ tả cảnh kinh thành trong mưa to gió lớn mà còn và chủ yếu là tả cảnh nước nhà đang bị ngoại bang xâm lược. Và chính vì thế, chủ thể trữ tình của bài thơ thất ngôn tứ tuyệt Giáp Thìn kinh thành cụ phong có thể cảm nhận rõ hơn nỗi cô đơn và bất lực của mình: “Hồi thiên vô nại thử thân cô” (Muốn xoay trời mà không nổi vì thế thân cô)... Và chính điều này đã thôi thúc Phan Châu  Trinh quyết tâm từ bỏ quan trường để trở thành “Nam quốc dân quyền tiên tổ chức” vào năm Ất Tỵ 1905!

Ăn Tết xa nhà chắc chắn tâm trạng ai cũng chẳng vui, quan Thừa biện Bộ Lễ Phan Châu Trinh cũng không ngoại lệ. Đón Tết Nguyên đán năm Giáp Thìn 1904 - hoặc không chừng Nguyên đán năm Ất Tỵ 1905 [dường như không thuyết phục lắm khi Giáo sư Hoàng Xuân Hãn cho rằng bài thơ này “có lẽ làm năm Nhâm Dần 1902, khi mới bổ làm quan ở Huế, nhưng đã chán chường, tuy chưa tỏ chính kiến gì”, bởi Nguyên đán Nhâm Dần 1902 và Nguyên đán Quý Mão 1903 Phan Châu Trinh vẫn đang thọ tang anh trai Phan Văn Cừ tại quê nhà1] ở kinh thành Huế đất khách quê người, quan Thừa biện Bộ Lễ Phan Châu Trinh đã mượn chén rượu trắng của các bạn đồng liêu để bộc lộ, giãi bày tâm trạng: “Thử thân thiên bị sổ kim khi” (Thân này phải quỵ lụy vì mấy đồng lương)... Và có lẽ suốt hai năm “quỵ lụy vì mấy đồng lương”, quan Thừa biện Bộ Lễ Phan  Châu  Trinh đã khóc rất nhiều, đến nỗi khi từ giã quan trường và bắt đầu cuộc Nam du vận động duy tân đổi  mới vào năm Ất Tỵ 1905, ông đã cảm thấy không còn nước mắt để khóc cho thân phận quê hương: “Giang sơn vô lệ khấp anh hùng” (Đối với giang sơn người anh hùng cũng không còn nước mắt để khóc). Đây là câu thơ thứ hai trong bài thất ngôn bát cú Chí thành thông thánh mà Phan Châu Trinh sáng tác khi dừng chân ở trường thi Bình Định. Với bài thơ mang tính tuyên ngôn cải cách giáo dục này, Phó bảng Phan Châu Trinh đã thẳng thừng tuyên chiến với cách học, cách thi xa rời thực tế nước mất nhà tan của nền giáo dục khoa bảng thời quân chủ: “Vạn dân nô lệ cường quyền hạ/ Bát cổ văn chương túy mộng trung” (Muôn dân đang chịu nô lệ dưới ách cường quyền/ (mà) Nhiều người vẫn cứ say mê trong giấc mộng văn chương bát cổ). Phan Châu Trinh không bài xích bản thân văn chương bát cổ, ông chỉ bài xích những người có học - mà theo nhìn nhận của ông trong Chí thành thông thánh,“chưa hẳn là không tâm huyết/ vị tất vô tâm huyết” - lại đang chìm đắm trong “giấc mộng văn chương bát cổ” khi “muôn dân đang chịu nô lệ dưới ách cường quyền”.

Nhà  thơ  Đất  Quảng  Phan  Châu Trinh cũng nổi tiếng với nhiều bài thơ sáng tác trong ngục tù, thậm chí ông có hẳn một tập thơ nhan đề Santé thi tập tập hợp 226 bài thơ viết trong 10 tháng bị người Pháp bắt giam ở nhà ngục Santé/ Prison de la Santé bên Paris, từ tháng 9 năm 1914 đến tháng 7 năm 1915. Trong Santé thi tập có nhiều bài thơ được Phan Châu Trinh lấy các câu nói quen thuộc của người Việt như Đói cho sạch rách cho thơm, Ăn cây nào rào cây ấy, Ăn trái nhớ kẻ trồng cây, Giậu ngã bìm leo, Luồn gió bẻ măng, Quân tử nhất ngôn, Tích cốc phòng cơ, Phước bất trùng lai hoạ vô đơn chí… hoặc thậm chí lấy cả câu thơ “Một trái trăng thu chín mõm mòm” của Hồ Xuân Hương… để làm đề bài. Tuyển tập Trăm năm thơ Đất Quảng đã tuyển chọn hai bài thơ Cảm tác lúc bị giam ở ngục Santé - I, Cảm tác lúc bị giam ở ngục Santé - II trong Santé thi tập; đặc biệt đã tuyển chọn ba bài thơ Phan Châu Trinh sáng tác khi bị bắt đày ra Côn Đảo sau vụ Trung Kỳ dân biến 1908: Xuất đô môn (Ra khỏi cửa đô thành), Đập đá ở Côn Lôn Côn Lôn tức cảnh. Chỉ đọc bốn bài thơ này cũng đã có thể thấy rõ khí phách Quảng Nam của Phan Châu Trinh: “Quốc thổ trầm luân dân tộc tuỵ/ Nam nhi hà sự phạ Côn Lôn” (Đất nước đắm chìm dân tộc tiều tụy/ Nam nhi chuyện gì mà sợ Côn Lôn - Xuất đô môn); “Những kẻ vá trời khi lỡ cảnh); “Tám kiếp trâu già chi sợ ách/ Ngồi buồn lắc vế cứ ngâm thi” (Cảm tác lúc bị giam ở ngục Santé - I).

Khi bị giam ở Côn Lôn, Phan Châu Trinh còn sáng tác bài thơ Khấp Dương tú tài mộ (Khóc mộ ông tú tài họ Dương) để tỏ lòng tiếc  thương Dương Thạc - một sĩ phu đất Quảng tham gia Phong trào Duy Tân đầu thế kỷ XX bị đày ra Côn Đảo sau vụ Trung Kỳ dân biến năm 1908 và bị bệnh phổi mất ngay trên đảo vào năm 1909: “Thanh sơn bích thủy ủng cô phần/ Phong vũ thiên nhai khấp cố nhân/ Vị cảm tận tình quyên huyết lệ/ Hồi đầu quốc thổ chính trầm luân” (Non xanh nước biếc ôm lấy nấm mồ lẻ loi/ Mưa gió nơi chân trời khóc người cũ/ Chưa dám hết lòng tuôn nước mắt bằng máu/ Nhìn về đất nước chính đang ở trong cảnh chìm đắm).

Xin nói thêm, với sở học của một phó bảng Nho học, thơ Phan Châu Trinh thường sử dụng điển tích, chẳng hạn như điển tích Nữ Oa vá trời/ Luyện thạch bổ thiên trong bài Đập đá ở Côn Lôn… Có nhà nghiên cứu xem đây là một trong những đặc điểm thi pháp độc đáo trong thơ Phan Châu Trinh1. Làm thơ, thỉnh thoảng Phan Châu Trinh còn thể hiện tài năng chơi chữ rất Quảng Nam, chẳng hạn từng sử dụng cặp từ “đợi bước/ Gian nan chi kể việc con con” biểu”và“đại biểu”nhằm chê trách các ông bà “nghị gật” trên nghị trường do thực dân Pháp lập nên ở nước ta: “Còn nói đến các vai đợi biểu/ Khéo chọn thay một kiểu y quan/ Khăn đen áo gấm nút vàng/ Khoanh tay bắt đứng sắp hàng thiệt xinh/ Thảy trăm việc làm thinh không biết/ Hỏi: “Băng ngàn chí quyết đi đâu?/ Paris ao ước bấy lâu/ Nhịp này khỏi tốn tiền tàu đi chơi!/ Làm như chuyện trò cười lớp giễu/ Đợi biểu này đại biểu cho ai?” (từ câu 329 đến câu 338 - phần II Tỉnh quốc hồn ca).

Thơ Phan Châu Trinh sớm được in thành sách. Sớm nhất có lẽ là cuốn Phan Tây Hồ di thảo - Văn tập của ông Phan Chu Trinh do hai người bạn tâm giao của Phan Châu Trinh là Ngô Đức Kế và  Lương Văn Can tổ  chức  bản thảo và phát hành ngay sau khi ông vừa qua đời (Nhà in Thụy Ký, Hà Nội, 1926) và được nhà in Chân Phương cũng ở Hà Nội tái bản năm 1927. Năm 1945, con rể của Phan Châu Trinh là ông Lê Ấm - chồng bà Phan Thị Châu Liên, tập hợp tiếp một số di cảo văn chương và học thuật của cha vợ để in và phát hành tại Quy Nhơn cuốn Tây Hồ Phan Chu Trinh di thảo, và trong cuốn sách này ông Lê Ấm đã giới thiệu với độc giả phần I trường ca Tỉnh quốc hồn ca dài 472 câu Phan Châu Trinh viết bằng chữ quốc ngữ theo thể thơ song thất lục bát vào năm 1906 - sau khi rời Nhật Bản - để dùng làm tài liệu giảng dạy ở Đông Kinh nghĩa thục cũng như ở các nhà trường duy tân - nghĩa thục ở đất Quảng (năm  1922 khi còn  ở  Pháp, Phan Châu Trinh viết tiếp phần II Tỉnh quốc hồn ca dài 500 câu song thất lục bát); đồng thời giới thiệu một số bài ca rút gọn trong Giai nhân kỳ ngộ diễn ca. Xin nói thêm, đầu thập niên 1960, ông Lê Ấm cũng tập hợp hợp một số di cảo văn chương và học thuật của cha vợ để in và phát hành cuốn sách Tây Hồ và Santé thi tập (NXB Lê Thị Đàm, Sài Gòn, 1961). Trong phần I Tỉnh quốc hồn ca, Phan Châu Trinh đã cổ súy việc học nghề và truyền nghề: “Ngồi thử nghĩ càng đau tấc dạ/ Hỡi những người chí cả thương quê/ Mau mau đi học lấy nghề/ Học rồi ta sẽ đem về dạy nhau...”1 Theo quan điểm của Phan Châu Trinh, “học lấy nghề” không chỉ để bản thân tinh được một nghề - nhất nghệ tinh - mà còn để “đem về dạy nhau”, để giúp cho nhiều người khác cũng có thể tinh được nghề ấy...

Có  thể  nói,  với  truyện  thơ  lục bát Giai nhân kỳ ngộ diễn ca dài gần 4.000 câu2 phóng tác vào nửa đầu thập niên 1910, Phan Châu Trinh đã tỏ rõ tính chuyên nghiệp của mình trên lĩnh vực thi ca. Truyện thơ Giai nhân kỳ ngộ  được Phan Châu Trinh Lê Ấm (1945), Tây Hồ Phan Chu Trinh di thảo, Quy Nhơn, từ câu 101 đến câu 104.

Theo Chương Thâu và các cộng sự trong Phan Châu Trinh toàn tập, tập 1 (NXB Đà Nẵng, 2005), trong Giai nhân kỳ ngộ diễn ca, Phan Châu Trinh chỉ diễn ca 939 câu thơ - từ hồi 1 đến nửa đầu hồi 9 - bản chuyển ngữ chữ Hán của Lương Khải Siêu.

phóng tác theo tiểu thuyết cùng tên Kajin no Kigù của nhà văn Nhật Bản Tòkai Sanshi - qua bản dịch chữ Hán của Lương Khải Siêu/ Liang Qichao (1867-1929) - có thể xem là tác phẩm văn học Nhật Bản sớm nhất xuất hiện ở Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ XX. Ba nhân vật chính trong tiểu thuyết Kajin no Kigù cũng như trong truyện thơ lục bát Giai nhân kỳ ngộ diễn ca là Tán Sĩ người Nhật Bản, Hồng Liên người Ái Nhĩ Lan và U Lan người Tây Ban Nha, cả ba đều là những thanh niên yêu nước, do bị khủng bố phải trốn ra nước ngoài hoạt động và gặp nhau ở Mỹ. Rõ ràng xuất thân của ba nhân vật chính này đã góp phần tạo nên cảm hứng nghệ thuật cho Phan Châu Trinh khi đọc bản chuyển ngữ sang tiếng Hán tiểu thuyết Kajin no Kigù và thôi thúc ông phóng tác Kajin no Kigù thành truyện thơ lục bát Giai nhân kỳ ngộ diễn ca đi cùng năm tháng.

*

Mặt mạnh của ngòi bút Phan Châu Trinh là văn chính luận và dễ thấy những Trung Kỳ dân biến thỉ mạt ký (1911), Thất điều thư (1922), Đông Dương chính trị luận  (1925)… phù hợp hơn với phong cách cứng cỏi của Phan Châu Trinh. Thế nhưng Phan Châu Trinh đã sớm dấn thân vào địa hạt thi ca và đã đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực này. Một thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Phan Châu Trinh về với cõi vô cùng, bài viết Phan Châu Trinh - nhà thơ Đất Quảng này cũng là một nén nhang lòng xin được thắp lên để thành kính tưởng nhớ ông…

B.V.T

Chú thích:

1  Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử thành phố Đà Nẵng; nguyên Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT thành phố Đà Nẵng

1 Xem thêm Vĩnh Sính (2016), Thử bàn về bài thơ chữ Hán “Kinh thành Nguyên đán” của Phan Châu Trinh qua hai bản dịch của Ngô Đức Kế và Hoàng Xuân Hãn, Diễn Đàn, ngày 12 tháng 4 năm 2016.

(Đập đá ở Côn Lôn); “Nước biếc non xanh thiêng chẳng nhẽ/ Gian nan xin hộ khách anh hùng” (Côn Lôn tức

1 Xem Phạm Tuấn Vũ (2023), Điển cố với thể hiện cảm hứng yêu nước trong thơ Phan Châu Trinh, Báo Giáo dục và Thời đại điện tử, ngày 22 tháng 5 năm 2023.