Những lát cắt sống động của di sản xứ Quảng

Tập sách Sắc màu văn hóa dân gian
Sắc màu văn hóa dân gian Đà Nẵng là một tuyển tập có quy mô đáng chú ý với 40 bài viết của nhiều nhà nghiên cứu, học giả và người làm công tác văn hóa. Tập sách là sự tiếp nối truyền thống nhiều năm qua của Hội Văn nghệ dân gian thành phố: Mỗi dịp đầu năm âm lịch lại giới thiệu một công trình nghiên cứu chuyên ngành như “món quà tri thức” dành cho bạn đọc yêu văn hóa và văn hóa dân gian.
Về nội dung, có thể chia 40 bài viết trong tập sách này thành bốn nhóm nghiên cứu chính, tạo nên một bức tranh đa diện về đời sống văn hóa dân gian xứ Quảng.
Nhóm thứ nhất gồm 10 bài nghiên cứu về lý luận và thực tiễn văn hóa - văn nghệ dân gian của các tác giả Vũ Đình Anh, Nguyễn Hoàng Thân, Nguyễn Thành Khánh, Nguyễn Đăng Hựu, Nguyễn Thị Kim Bài, Trần Văn An, Lê Thị Diệu My... Các bài viết không chỉ nhìn lại những vấn đề lý luận của văn hóa dân gian mà còn đặt ra các câu hỏi về vai trò của di sản trong bối cảnh phát triển đô thị hiện nay. Nhiều tác giả đã tiếp cận vấn đề từ góc nhìn liên ngành: Văn hóa gắn với kinh tế, du lịch, giáo dục cộng đồng hay phát triển đô thị. Đáng chú ý là các bài viết bàn về khái niệm “văn hóa dân gian đô thị” - một hướng tiếp cận còn khá mới trong nghiên cứu văn hóa ở Việt Nam. Từ việc phân tích mối quan hệ giữa ba tầng khái niệm: văn hóa - văn hóa dân gian - văn hóa dân gian đô thị, các tác giả gợi mở nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đáng suy nghĩ, nhất là khi Đà Nẵng đang chuyển mình phát triển mạnh mẽ.
Bên cạnh những phân tích lý thuyết, nhiều bài viết cũng đưa ra các kiến nghị cụ thể: Phát huy nguồn lực văn hóa dân gian trong phát triển kinh tế, bảo tồn giá trị ẩm thực truyền thống, khai thác không gian đô thị để duy trì các sinh hoạt văn hóa dân gian, hay khơi dậy tình yêu văn hóa truyền thống trong giới trẻ. Những gợi ý này cho thấy nghiên cứu văn hóa dân gian không chỉ là công việc học thuật thuần túy mà còn gắn liền với đời sống xã hội và chiến lược phát triển văn hóa của địa phương.
Nhóm thứ hai gồm 11 bài nghiên cứu về các loại hình văn học và nghệ thuật dân gian của các tác giả Nguyễn Văn Bổn, Trần Ánh, Lê Duy Anh, Đinh Thị Hựu, Nguyễn Thị Thanh Xuyên, Trịnh Tuấn Khanh... Phần này mang lại cho người đọc cái nhìn sinh động về kho tàng sáng tạo dân gian của cư dân đất Quảng. Từ ca dao, dân ca, truyện kể dân gian đến kiến trúc truyền thống hay nghệ thuật trình diễn, mỗi bài viết đều góp phần làm sáng rõ một khía cạnh của đời sống tinh thần cộng đồng.
Đặc biệt, nghệ thuật hô hát bài chòi tiếp tục là một chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Không chỉ khảo sát vai trò của bài chòi trong đời sống đương đại, các tác giả còn nhấn mạnh tính cộng đồng - yếu tố làm nên bản sắc đặc biệt của loại hình nghệ thuật này trong dòng chảy văn hóa miền Trung. Sự quan tâm này rất đúng hướng bởi nghệ thuật hô hát bài chòi xứ Quảng không chỉ được vinh danh là một di sản văn hóa phi vật thể quốc gia mà còn góp phần để bài chòi Trung Bộ Việt Nam được UNESCO chính thức ghi vào danh mục các Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại từ năm 2017. Tuy nhiên, cũng có nhà nghiên cứu như Đinh Thị Hựu lại quan tâm theo một hướng khác khi đi sâu sưu tầm “Giai thoại hò khoan” - một loại hìnhdân ca quen thuộc ở Đà Nẵng nhưng dường như đang có khả năng mai một, thất truyền. Hướng nghiên cứu này không chỉ giúp bổ sung tư liệu mà còn góp phần lưu giữ những ký ức văn hóa đang đứng trước nguy cơ bị lãng quên trong đời sống hiện đại.
Nhóm thứ ba gồm 12 bài viết về lễ hội và tín ngưỡng dân gian của các tác giả Bùi Văn Tiếng, Võ Văn Hòe, Hoàng Hà Giang, Đinh Thị Trang, Hoàng Thị Hường... Đây là phần thể hiện rõ nhất chiều sâu tâm linh và đời sống tinh thần của cư dân vùng đất xứ Quảng. Điều thú vị là, mặc dầu đây không phải lần đầu ấn phẩm này mở rộng không gian nghiên cứu ra cả đất Quảng, nhưng thật thú vị khi bên cạnh những tín ngưỡng dân gian Đà Nẵng trước hợp nhất, Sắc màu văn hóa dân gian Đà Nẵng còn tỏa sáng một số tín ngưỡng dân gian ở địa bàn Quảng Nam trước hợp nhất qua các bài viết “Tín ngưỡng thờ Cao Các đại vương ở Hội An” của Trương Hoàng Vinh; “Cửu Thiên huyền nữ trong văn hóa dân gian ở Hội An” của Nguyễn Văn Thịnh; “Sắc phong thần Đại Càn ở Duy Xuyên” của Phạm Phước Tịnh… Những bài viết này góp phần phác họa bức tranh giao thoa văn hóa giữa các vùng đất vốn có lịch sử gắn bó lâu đời.
Nhóm cuối cùng gồm 7 bài nghiên cứu về nghề và làng nghề truyền thống. Qua các công trình này, người đọc có dịp tiếp cận với nhiều tri thức dân gian quý giá được tích lũy qua nhiều thế hệ. Nhiều nghề và làng nghề truyền thống đang được bảo tồn và phát huy ở địa bàn Quảng Nam trước hợp nhất cũng được vinh danh qua các bài viết “Bảo tồn và phát huy giá trị nghề làm nhà tre, dừa Cẩm Thanh gắn với phát triển du lịch bền vững” của Lê Thị Ngọc Hương; “Tri thức xảm trét ghe thuyền của cư dân làng mộc Kim Bồng” của Võ Hồng Việt; “Nghệ nhân Nguyễn Hưng và nghề làm linh vật thiên cẩu” của Thái Thị Liễu Chi; “Tri thức dân gian về nghề chế biến cao lầu ở Hội An” của Trần Thị Lệ Xuân… Bên cạnh giá trị văn hóa, các nghề truyền thống ấy còn gắn với tiềm năng phát triển du lịch bền vững - một hướng đi đang được nhiều địa phương quan tâm.
Có thể nói, Sắc màu văn hóa dân gian Đà Nẵng không chỉ là tập hợp những bài nghiên cứu rời rạc mà là một bức tranh tổng thể về đời sống văn hóa dân gian của vùng đất ven sông Hàn và xứ Quảng. Từ lý luận đến thực tiễn, từ văn học nghệ thuật đến tín ngưỡng, lễ hội và nghề truyền thống, mỗi bài viết đều góp thêm một mảnh ghép cho bức tranh đa sắc ấy.
Điều đáng quý hơn cả là phía sau các trang viết đều thể hiện rõ tâm huyết của những người làm công tác nghiên cứu văn hóa. Kỳ vọng của tập thể tác giả 40 bài viết in trong Sắc màu văn hóa dân gian Đà Nẵng là kết quả sưu tầm, nghiên cứu mang tính chuyên nghiệp và đầy tâm huyết của mình có sức lan tỏa thật rộng trong công chúng. Thậm chí với tư cách những trí thức hoạt động trên lĩnh vực nghiên cứu văn hóa, họ còn kỳ vọng tất cả hiến kế về phát huy nguồn lực văn hóa dân gian trong phát triển kinh tế, về bảo tồn và phát huy giá trị ẩm thực dân gian, về khai thác không gian đô thị trong bảo tồn sinh hoạt văn hóa dân gian, về khơi dậy tình yêu văn hóa dân gian của giới trẻ trong đời sống đô thị, về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các di sản kiến trúc Pháp, về nâng tầm các hoạt động văn học - nghệ thuật để tạo điểm nhấn mới và về phát huy giá trị văn hóa của lễ hội vào phát triển du lịch đối với Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn… đã ký thác vào từng bài viết có thể đến được với những người có thẩm quyền về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, về khai thác tài nguyên văn hóa trong phát triển công nghiệp văn hóa, và nữa và nữa… Chính vì vậy, giá trị của cuốn sách không chỉ nằm ở những tri thức được trình bày mà còn ở khả năng gợi mở các hướng tiếp cận mới cho những người quan tâm đến văn hóa dân gian.
Đọc Sắc màu văn hóa dân gian Đà Nẵng, người đọc không chỉ được tiếp cận một công trình học thuật mà còn được bước vào một thế giới văn hóa phong phú, nơi những câu ca dao, làn điệu dân ca, lễ hội, tín ngưỡng và nghề truyền thống cùng hòa quyện. Đó chính là “sắc màu” của ký ức cộng đồng, những sắc màu vẫn đang tiếp tục sống, tiếp tục biến đổi và tiếp tục được gìn giữ trong đời sống hôm nay.
T.N.H