Chuyển trọng tâm tư duy để văn học, nghệ thuật bước vào công nghiệp văn hóa

31.12.2025
Nguyễn Nho Khiêm

Chuyển trọng tâm tư duy để văn học, nghệ thuật bước vào công nghiệp văn hóa

Lễ trao Giải thưởng Văn học-Nghệ thuật thành phố lần thứ 4

Lâu nay, nhiều địa phương vẫn quen đo thành tựu văn học, nghệ  thuật  bằng  “tác  phẩm” và “giải thưởng”. Nhưng trong logic công nghiệp văn hóa (CNVH), đích đến không dừng ở khoảnh khắc vinh danh. Đích đến là một cơ chế để tác phẩm có đời sống dài lâu, lan tỏa đa nền tảng, tạo nguồn lực tái đầu tư, để nghệ thuật đi xa hơn mà không đánh mất phẩm giá.

* Giải thưởng và khoảng trống sau vinh danh

Không ai phủ nhận giá trị của giải thưởng. Giải thưởng là một “cột mốc” văn hóa, xác nhận phẩm chất thẩm mỹ, tôn vinh lao động sáng tạo, bồi đắp niềm tin của công chúng. Nhưng cũng chính ở đây, thực tiễn quản trị văn hóa thường bộc lộ một điểm yếu: xem giải thưởng như “đỉnh” của hành trình, rồi khép lại vòng đời tác phẩm. Tác phẩm ra mắt - trưng bày, biểu diễn, xuất bản xét giải - lưu Chu trình ấy giúp tích lũy thành tựu và vốn biểu tượng, song lại chưa hình thành được tài sản văn hóa theo nghĩa có thể quản trị, khai thác, và quan trọng hơn: tạo nguồn lực quay lại nuôi dưỡng sáng tạo.

Một thành phố có thể có nhiều tác phẩm hay, nhiều gương mặt tài năng, nhưng nếu thiếu “đường đi” cho tác phẩm, thì giá trị sẽ tỏa sáng trong khoảnh khắc - rồi lặng đi. Và khi tác phẩm lặng đi, công nghiệp văn hóa không có nền để hình thành, bởi chuỗi giá trị bị đứt ngay đoạn chuyển từ sáng tạo sang sản xuất - phân phối - tiếp thị - tái đầu tư.

* IP: từ “giá trị tinh thần” đến “tài sản có thể quản trị”

Khái niệm IP (tài sản sở hữu trí tuệ) đôi khi khiến người làm nghệ thuật dè dặt, vì sợ “thị trường hóa”, sợ nghệ thuật bị kéo về phía doanh thu. Nhưng IP không phải chiếc cân đo nghệ thuật bằng tiền; IP là công cụ để tác phẩm có đời sống dài hơn và công bằng hơn trong môi trường số, nơi sao chép diễn ra nhanh và rộng.

Ở đây cần phân biệt rõ:

Giải thưởng tạo vốn biểu tượng: công nhận, tôn vinh, định hình chuẩn mực thẩm mỹ.

- IP tạo vốn vận hành: bảo vệ quyền tác giả, cho phép cấp phép, chuyển thể, đồng sản xuất, phân phối đa nền tảng, từ đó tạo dòng doanh thu hợp pháp.

Nếu thiếu IP, tác phẩm dễ rơi vào nghịch lý “vinh danh mà không sống tiếp”: được ca ngợi nhưng không có cơ chế để lan tỏa bền; hoặc bị khai thác tự do đến mức chính người sáng tạo không còn động lực. Còn khi IP được “đóng gói” đúng cách, hồ sơ bản quyền rõ ràng, nội dung được chuẩn hóa, sẵn khả năng chuyển thể, tác phẩm có thể bước vào chuỗi sản xuất nội dung, mở ra những “cửa vào” mới cho công chúng.

* Hai chìa khóa của tư duy hệ sinh thái

CNVH đòi hỏi tư duy hệ sinh thái: tác phẩm không chỉ tồn tại trong một hình thức, mà có đời sống đa hình. Cùng một lõi nội dung, có thể phát triển thành: sách giấy, sách điện tử, sách nói; podcast kể chuyện; video ngắn giới thiệu tác phẩm; chuyển thể phim ngắn; sân khấu hóa; triển lãm tương tác; tour trải nghiệm gắn địa danh - ký ức...

“Đa hình” không có nghĩa pha loãng nghệ thuật. Trái lại, đa hình là cách để mở rộng thế giới của tác phẩm, giúp tác phẩm gặp được nhiều tầng công chúng: người thích đọc, người thích nghe, xem, người thích trải nghiệm. Cánh cửa nào cũng dẫn về cùng một “hạt nhân” thẩm mỹ, nếu ta biết tổ chức.

Và ở đây xuất hiện chìa khóa thứ hai: “người đỡ”. Một tác giả, một nghệ sĩ không thể vừa sáng tác, vừa sản xuất, vừa phát hành, vừa truyền thông, vừa lo pháp lý, vừa phân tích dữ liệu công chúng. Một hệ sinh thái lành mạnh phải có tầng trung gian chuyên nghiệp: Nhà sản xuất, người phụ trách, người đại diện, nhà xuất bản, nhà phân phối, nền tảng số, đơn vị truyền thông. Nếu thiếu tầng này, tác phẩm dù hay vẫn “tắc đường”; còn nếu có, tác phẩm sẽ tìm được đúng kênh, đúng thị trường, đúng cộng đồng tiếp nhận.

* Để nghệ thuật đi xa hơn mà không đánh mất mình

Luận điểm then chốt cần khẳng định: Không phải thị trường hóa nghệ thuật theo nghĩa giản lược, mà là “tổ chức hóa” nghệ thuật để nghệ thuật đi xa hơn.

“Thị trường hóa” giản lược thường rơi vào chạy theo thị hiếu tức thời, đo giá trị nghệ thuật bằng độ nổi tiếng, lượt xem, doanh thu. Nó có thể tạo hiệu ứng ngắn hạn, nhưng dễ làm nghèo chiều sâu. Còn “tổ chức hóa” là câu chuyện khác: tác phẩm vẫn giữ phẩm chất thẩm mỹ, nhưng cần phải xây hạ tầng thể chế và thị trường để tác phẩm có đường đi bền vững.

Tổ chức hóa bao gồm: chuẩn hóa quy trình bản quyền, cấp phép, hợp đồng; bồi dưỡng năng lực sản xuất và phân phối; phát triển công chúng qua giáo dục thẩm mỹ và hoạt động trải nghiệm; thiết kế cơ chế tái đầu tư minh bạch. Nói cách khác, tổ chức hóa không bắt nghệ sĩ “đi bán hàng”. Tổ chức hóa là giải phóng nghệ sĩ khỏi những khâu họ không chuyên, để nghệ sĩ tập trung vào sáng tạo, còn hệ sinh thái lo “đường đi”.

*Đà Nẵng và bài toán “đường đi” cho tác phẩm trong không gian đô thị-vùng

Trong không gian “thành phố Đà Nẵng” hôm nay, một đô thị - vùng mở rộng, có biển, có sông, có đồng bằng và miền núi - chất liệu để hình thành

IP văn hóa là vô cùng dày. Câu chuyện đô thị bên sông, ký ức chiến tranh - hậu chiến, nhịp sống công nghiệp mới; chất liệu xứ Quảng với làng nghề, lễ hội, những dòng sông phù sa, những cung đường miền núi… đều có thể trở thành “lõi nội dung” cho văn chương, âm nhạc, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh và các sản phẩm trải nghiệm.

Nhưng chính vì dày chất liệu, càng cần một nguyên tắc: đừng dàn trải phong trào; hãy chọn hạt giống và đầu tư theo chuỗi. Chỉ cần mỗi năm hình thành được một nhóm IP tiêu biểu (tác phẩm/ nhân vật/ chủ đề), tổ chức được hành trình đa nền tảng, tạo được cơ chế liên kết nhà xuất bản, đơn vị biểu diễn, hãng phim, du lịch, nền tảng số, thì hệ sinh thái sẽ dần tự vận hành.

Nếu vẫn chỉ hỏi: “Năm nay có thêm bao nhiêu tác phẩm? Có thêm bao nhiêu giải?”, CNVH sẽ mãi là khẩu hiệu. Câu hỏi đúng hơn là: có bao nhiêu tác phẩm được tổ chức để sống lâu trong đời sống xã hội? Có bao nhiêu IP được hình thành? Có bao nhiêu chuỗi sản phẩm - dịch vụ được vận hành? Và nguồn lực ấy quay trở lại nuôi sáng tạo ra sao?

Chuyển từ “tác phẩm” sang “hệ sinh thái” không làm nghệ thuật mất phẩm giá. Trái lại, đó là cách để nghệ thuật đi xa hơn, bền hơn, sâu hơn và tạo thêm giá trị công cho thành phố: bản sắc, sức hấp dẫn văn hóa, việc làm sáng tạo, dịch vụ du lịch, kinh tế đêm, năng lực cạnh tranh mềm trong khu vực.

N.N.K

 

Bài viết khác cùng số

Từ một nghị quyết của Đảng về giáo dục nghệ thuật trong trường họcVăn hóa - “hệ điều tiết” phát triển đất nướcTổng kết, trao giải Cuộc thi ảnh nghệ thuật “Người Đà Nẵng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” và triển lãm nghệ thuật “Đất và người Đà Nẵng”Liên hoan tranh thiếu nhi “Tự hào Đà Nẵng quê hương” - năm 2025Tặng thưởng Tạp chí Đất Quảng Năm 2025Mỹ thuật Đà Nẵng với công nghiệp văn hóaPhát triển công nghiệp văn hóa gắn với xây dựng con người và bản sắc văn hóa Việt Nam - nhìn từ thực tiễn Đà NẵngChuyển trọng tâm tư duy để văn học, nghệ thuật bước vào công nghiệp văn hóaVăn học, nghệ thuật Đà Nẵng với công nghiệp văn hóaVăn học, nghệ thuật Đà Nẵng với công nghiệp văn hóa: Những rào cản và đề xuấtHiền hậu Cần Thơ...Món nướng ngày mưaTriều cường và emChiếc khăn dongMùa xuân hoa nở (*)Ba nuôi (*)TrôiThơ Bùi Công MinhThơ Đỗ Tấn ThảoThơ Hồ XoaThơ Hoàng Văn SừThơ Phan Bùi Bảo ThyThơ Nguyễn Hàn ChungThơ Thảo NguyênKý ức miền TâyMùa nước nổiThơ Trần Thị Thùy VyThơ Phạm Thế ChấtThơ Ngô Liên HươngKhi ký ức đánh thức tình yêu và thi caRượu và người khách tha hương Đynh Trầm CaNguyễn Mạnh Tuấn - một chân dung khácCái tộ tai bèoDấu ấn tín ngưỡng sông nước xứ QuảngMặt nạ Tuồng - sự bí ẩn với khán giả hôm nayTổng kết, trao giải Cuộc thi ảnh nghệ thuật “Người Đà Nẵng - Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” và Triển lãm nghệ thuật “Đất và Người Đà Nẵng”Một số tác phẩm đoạt giải Cuộc thi vẽ tranh thiếu nhi "Tự hào Đà Nẵng quê hương"Về Cần Thơ