Rượu và người khách tha hương Đynh Trầm Ca

Cố nhạc sĩ, nhà thơ Đynh Trầm Ca. Ảnh FBCN
Rượu đã trở thành thi đề quen thuộc của thơ ca kim cổ và để lại cho văn học một gia sản đồ sộ với những tác phẩm đặc sắc… Và với Đynh Trầm Ca, rượu trong thơ không chỉ là chiếc gương phản quang tâm trạng mà còn là nhịp cầu nối hai bờ hoài niệm. Đó là nỗi niềm của một thời trai trẻ chủ yếu sống nơi đất khách, quê người cùng nỗi đau đáu về quê hương. Bài viết này chỉ xin đề cập đến hai lần ông uống rượu cùng thơ.
Đynh Trầm Ca mở đầu nỗi Nhớ quê bằng lời kể nhẹ nhàng: Quán cóc bốn thằng ngồi cụng ly/ Quê nghèo một thuở rủ nhau đi!
Cuộc sống của những người con xa xứ lúc này vẫn chẳng đổi thay và nghèo như “quán cóc”. Nhưng nỗi buồn trong tâm hồn họ theo mây trời đã tạo ra một không gian đậm chất nghệ thuật mà vẫn chân thật khiến người đọc bâng khuâng: Chiều nay quê cũ thổi mây nhớ/ Xuống đậu ngang đầu bốn miệng ly.
Lời thơ với nhịp bắc cầu bộc lộ nỗi nhớ da diết trong tâm hồn. Hình ảnh “quê cũ” như mây lãng đãng cuối trời xa xăm nhưng không vì thế mà vùi vào quên lãng. Mây xuống đậu ngang đầu, chủ động đánh thức tiềm thức những người khách tha hương.
Từ cảm xúc ban đầu tác giả dần đưa ta đến những câu chuyện của kỷ niệm tê tái. Giọng Quảng chưa bao giờ được khen nhưng tiết tấu chân chất “hiền khô cục đất” lại chứa cả “thênh thang trời cũ” với bao hoài niệm phá vỡ không gian, xuyên suốt thời gian ùa về: Quán cóc bốn thằng ngồi như mê/ Có ai vừa nhắc chuyện ngoài quê/ Ai ca giọng Quảng nghe thương thế/ Bốn cốc hoài hương chảy ngược về!
Đại từ “ai” mơ hồ, nhưng chỉ cần có thế đã làm sống dậy biết bao kỷ niệm. Bốn cốc hoài hương, bốn tâm trạng, bốn mảnh đời trôi dạt được thăng hoa không chỉ ở việc chọn lọc thi ảnh mà bắt nguồn từ chiều sâu cảm xúc dành cho quê hương của ngàn đêm thương nhớ; khoảnh khắc nỗi nhớ quê bất chợt bật tung, dội ngược từ đáy lòng. Chỉ một giọng Quảng cất lên giữa quán cóc miền Nam đủ để dòng ký ức tưởng ngủ yên bỗng hóa thành con suối mãnh liệt, lặng lẽ tìm đường về nguồn. Nỗi lòng “hoài hương” được rót vào những chiếc cốc thấm vị nồng một đời lang bạt, vị mặn của đất hòa trong vị ngọt của người xứ Quảng. Động từ “chảy ngược” đẹp như một nghịch lý của trái tim: đi xa mấy thì nỗi nhớ vẫn không chịu xuôi theo thời gian, mà cứ quay về, ngược chiều, dai dẳng. Lúc này, bốn chiếc cốc nhỏ như bốn chiếc thuyền chở đầy kỷ niệm, lách qua những tháng ngày lam lũ cập bến quê nhà trong lặng lẽ. Tứ thơ vì thế không chỉ tả tâm trạng mà còn vẽ được cả hành trình của nỗi nhớ: Dòng Thu Bồn chảy trong câu hát/ Rợp mát bốn lòng bóng lá tre…/ …Thênh thang trời cũ vỡ tràn ly/ Vạt mây đèo ải trôi chất ngất.
Khổ thơ tự nhiên như lời kể chuyện, Đynh Trầm Ca khẳng định cuộc sống nơi quê người có thể làm đổi thay diện mạo bên ngoài: Phồn hoa ừ, có thay màu áo/ Không dễ thay màu khóm lá tre!... Hình ảnh đối lập qua từ phủ định “không dễ” đã khẳng định sắc màu quê hương ven sông bốn mùa đổi theo con nước mãi ghi khắc trong tâm hồn.
Sương khói buổi hoàng hôn là thi ảnh của nhớ thương đã làm nên tuyệt tác cho Thôi Hiệu, Huy Cận... Với Đynh Trầm Ca chiều đã trở nên trừu tượng hơn: Chiều đong kỷ niệm đầy bốn cốc/ Bốn cốc tràn lan dòng dân ca. Động từ “đong” bằng xúc cảm như chưa bao giờ dứt, nên không chỉ “đầy” ký ức quê nhà mà còn “tràn lan” những ngọt ngào câu hát. Lời dân ca bỗng hóa thành dòng nước vô hình tràn qua mọi ngõ ngách cảm xúc, chạm vào từng phận người phiêu bạt và làm mềm đi cả buổi chiều xa xứ.
Rượu đong đầy, cảm xúc dâng trào, bóng tre bên dòng Thu Bồn hiện ra choáng ngợp, nhà thơ thúc giục: Uống đi! những mảnh đời trôi dạt/ Dốc cạn nguồn hương mật quê nhà!... Hai tiếng “Uống đi!” cùng dấu chấm than bật ra một trạng thái dồn nén, không phải lời mời bình thường mà là âm vang đồng vọng trong tâm hồn của những kẻ tha hương. Dấu than ấy tạo nhịp thơ 2/5 làm câu thơ bùng lên một phách mạnh, nơi cảm xúc vỡ òa sau dòng dân ca bồi hồi. Và vì thế, hình ảnh hương mật quê nhà trở thành điểm lắng dịu cuối cùng: uống để mà nhớ, uống để được về với vị ngọt đằm sâu của xứ Quảng. Men say thực sự đến từ quê hương, thứ mật ngọt mà dù cuộc đời có xô đẩy đến đâu, chỉ cần một giọt thôi cũng đủ sưởi ấm cả chặng đường phiêu dạt.
Bài thơ là hành trình cảm xúc, bắt đầu từ nỗi nhớ lãng đãng như mây, mở rộng thành dòng chảy hoài niệm, rồi kết lại ở vị ngọt hương mật quê nhà. Đó là một cấu trúc đồng hiện giữa không gian và thời gian: quê ở trong lòng người, cũ mà vẫn mới, xa mà vẫn gần. Cũng như dòng Thu Bồn trong thơ ông, tưởng như ở tận miền Trung xa xôi nhưng thật ra vẫn âm thầm “chảy trong câu hát”, chảy trong nỗi niềm nhớ thương. Vì thế, Đynh Trầm Ca chỉ có thể dừng lại bài thơ chứ không thể khép lại nỗi niềm Nhớ quê.
Trong cuộc đời lang bạt của mình, lại thêm một chiều Đynh Trầm Ca uống rượu khiến người ta ngậm ngùi. Đó là Rượu cuối năm bên bờ kinh phương Nam - bài thơ được ông viết ở miền Tây vào cuối tháng 12/1991. Để hiểu thêm về tâm trạng của tác giả trong những ngày cuối năm, thử điểm qua vài câu thơ của vài người con đất Quảng khác: Chiều cuối năm, ngồi trên tầng phố cũ/ Trời quê hương nhiều mây trắng sa mù/ Hai mươi tuổi những ngày nuôi mộng đỏ/ Đã xanh rồi cây trái mọc suy tư (Xuân của một người - Nguyễn Nho Sa Mạc); hay: Rượu tàn niên chừ gió xa xăm/ gió chi thổi miết năm mươi năm? (Rượu cuối năm - Hoàng Lộc).
Vẫn là cuối năm nhưng Đynh Trầm Ca có nỗi niềm khác: Rượu cuối năm, rót cuối bờ kinh/ Ngọn gió chướng thổi se lòng nước.
Ngôn ngữ, hình ảnh lạnh lẽo của Đynh Trầm Ca như cơn gió đông chỉ se lòng nước nhưng lại làm tê cóng tâm hồn. Gió xô mặt nước long đong phận người xa xứ, gió làm nhòa dấu vết yêu thương, gió cứa vào những vết sẹo ký ức để trái tim tác giả cất lên tiếng thở dài não nề: Rượu cuối năm, cất không lên tiếng hát/ Khúc xuân ca hiu hắt giọng trầm ca/ ...Nâng chén hoài hương gục nhớ mộ cha/ Gió thổi miết chắc chẳng còn thấy nấm/ Nâng chén tình quê thương mẹ già lận đận/ Sinh con ra, chất thêm lấy lượng sầu.
Hình ảnh quê hương đã ẩn vào những ly rượu đắng cuối năm. Nhà thơ tìm cách vượt qua nỗi buồn xa xứ bằng ly rượu nhưng một loạt từ ngữ, hình ảnh se lòng, hiu hắt, gục nhớ, lận đận… được nhà thơ chắt lọc khiến nỗi nhớ càng thêm tê tái, giọng thơ đau buồn như tiếng nấc nghẹn ngào. Sự bất lực nhìn nấm mồ cha và tấm thân tiều tụy của mẹ càng xoáy thêm nỗi đau thương.
Trở về với thực tại lại là nỗi buồn tê tái: Rượu cuối năm, gió lọt lòng ly/ Vọng tiếng hú ma Hời thương quê cũ/ Đêm viễn xứ vang vang pháo nổ/ Giao thừa! Giao thừa! Hề! Ta lăn quay.
Người ta có thể nghèo cả năm, nghèo một đời nhưng không ai nghèo ngày Tết. Thế mà lúc giao thừa vang vang pháo nổ nhưng Đynh Trầm Ca thấy gió lọt lòng ly rồi vọng ra thành tiếng hú ma Hời… Hai câu thơ phủ lên không gian cuối năm một lớp sương mỏng của mơ hồ và hoài niệm. Gió lọt lòng ly vừa gợi hình ly đã cạn rượu, vừa mở ra khoảng trống cho tiếng hú ma Hời vọng lại len lỏi vào ký ức như làn gió cuối năm, nhẹ nhàng mà thấm sâu vào lòng người xa xứ.
Bài thơ kết thúc bằng tiếng than bâng khuâng mà ám ảnh: rượu đã cạn, nhưng cơn say ký ức về quê nhà vẫn tiếp tục chìm sâu trong lòng người: Rượu hết rồi làm sao chết giữa cơn say!... Tác giả muốn thoát ra bằng những cơn say nhưng lại bị chìm sâu vào thế giới của thực tại nghèo khó, buồn nhớ da diết về quê hương và chẳng có lối về. Ông cố vượt qua gập ghềnh cuộc đời nhưng vòng xoáy càng lún sâu vào hố thẳm phận người. Cả bài trở thành một trường cảm xúc vừa hiện thực vừa mang hơi hướng siêu thực gợi cảm giác mơ hồ mà ám ảnh.
Dẫu biết hiệu quả thẩm mỹ nghệ thuật của thơ ca là ngôn từ nhưng cả hai bài thơ này tác giả đã tập trung vào thi ảnh. Trong hai lần uống rượu này, nhà thơ Đynh Trầm Ca đã dựng lên một trường cảm xúc nhất quán. Mỗi lần nâng ly, ký ức lại xao động, quê hương lại loáng thoáng hiện về. Nỗi niềm hoài hương vì thế đã trở thành một chất liệu thẩm mỹ, góp phần định hình phong cách thơ ông: dung dị, mộc mạc mà sâu lắng. Với Đynh Trầm Ca, rượu không để say mèm quên đời mà để tỉnh táo nhớ quê; không phải để trốn chạy hiện thực mà để đối diện sự cô đơn. Bởi thế, những chiếc cốc trong quán cóc nhỏ bé kia bỗng được nâng lên thành một không gian ký ức, nơi mỗi giọt rượu như một hạt phù sa bồi đắp cho nỗi nhớ, tiếng cụng ly như đang gõ nhịp trái tim. Tại đây, những mảnh đời phiêu bạt tìm thấy nhau bằng nỗi nhớ, lấy rượu làm chất dẫn và quê nhà trở thành điểm hội tụ. Nỗi niềm hoài hương là cánh chim chiều và ly rượu trong thơ ông chính là cánh rừng để cánh chim ấy có nơi tìm về tổ ấm. Bởi vậy, khi trang thơ khép lại rồi, vẫn còn thấy phảng phất mùi đất, mùi tre, mùi gió Thu Bồn và cả tiếng vọng ma Hời…
Tôi không dám chắc đây có phải là hai bài thơ nói về rượu hay nhất của Đynh Trầm Ca. Nhưng có thể khẳng định rượu mang tình quê là đặc sắc. Khi buồn, nhiều người thường uống rượu để quên, còn Đynh Trầm Ca uống rượu là để nhớ. Đây chính là nét đẹp trầm tư như dòng Thu Bồn chảy mãi trong tâm hồn ông.
* *
*
Còn nhớ, trong những ngày còn trai trẻ, buồn chất ngất trước tình yêu tan vỡ, Đynh Trầm Ca đã viết: “Thế là, em đã đào giúp anh chiếc huyệt dưới trời quên lãng và anh nằm xuống cho đời lãng quên”. Bây giờ thì ông đã nằm xuống nhưng để mọi người nhớ mãi về ông: nhà thơ, người nhạc sĩ tài hoa.
P.Đ.T