Dấu ấn tín ngưỡng sông nước xứ Quảng

Từ những dòng sông hiền hòa đến biển khơi sóng gió, tín ngưỡng thờ các vị thần sông nước ở xứ Quảng không chỉ là niềm tin tâm linh mà còn phản chiếu sinh động đời sống kinh tế và sự tiếp giao văn hóa tộc người nơi vùng đất giao hòa giữa sông và biển, miền ngược và miền xuôi. Đó là mạch nguồn văn hóa bền bỉ nuôi dưỡng tâm hồn bao thế hệ người dân xứ Quảng.
* Những nữ thần sông nước
Tín ngưỡng thờ các vị nữ thần sông nước ở xứ Quảng phản ánh sâu sắc tâm thức“hướng thủy”của cư dân vùng cửa sông, ven biển. Trong môi trường tự nhiên khắc nghiệt của dải đất miền Trung, người dân nơi đây luôn đối diện với bão tố, lũ lụt diễn ra triền miên nên họ hình thành niềm tin thiêng liêng vào những vị nữ thần cai quản nước, mang lại bình an và no đủ. Tiêu biểu là Bà Thủy Long - vị thần nước được thờ ở nhiều làng chài ven biển xứ Quảng; Bà Dàng Lạch - nữ thần cửa biển, bảo hộ ghe thuyền ra khơi; cùng với Đại Càn quốc gia Nam Hải tứ vị Thánh Nương; Thiên Y Ana Thánh Mẫu - vị nữ thần được người Chăm gọi là Pô Inư Nagar, Thần Mẹ của đất đai và sự sinh sôi; hay Thiên Hậu Thánh Mẫu - nữ thần biển trong tín ngưỡng người Hoa... Trải qua nhiều thế kỷ, các Bà được phong những danh hiệu cao quý khác nhau, thể hiện sự tôn vinh tín ngưỡng dân gian của các triều đại phong kiến.
Trong tâm thức cư dân, các Bà mang tính lưỡng diện: vừa là thần bảo hộ che chở phù hộ cho người dân, vừa có thể nổi giận với những ai xúc phạm hay coi thường. Nhiều câu chuyện còn lưu truyền trong dân gian về sự linh ứng của các Bà, điều này không chỉ phản ánh niềm tin tâm linh, mà còn cho thấy sự tri ân của con người đối với sông nước - nơi ban tặng cho họ nguồn sống nhưng cũng luôn tiềm ẩn hiểm nguy. Chính niềm tin ấy đã giúp cư dân xứ Quảng xây dựng mối quan hệ hài hòa, ứng xử linh hoạt với thiên nhiên.
Các lễ hội thờ nữ thần như Bà Thu Bồn (12/2 âm lịch), Đảo Thủy ở Đại Lộc (4 - 5 tháng Giêng), rước Cộ Bà Chợ Được (10 - 11 tháng Giêng) hay vía Thiên Hậu Thánh Mẫu (23/3 âm lịch)… đều mang đậm màu sắc nông nghiệp, sông nước và phồn thực. Lễ hội là dịp tri ân thần linh, gắn kết cộng đồng, đồng thời là không gian bảo tồn các hình thức diễn xướng dân gian, tạo nên sắc thái riêng của văn hóa tín ngưỡng xứ Quảng.
Có thể thấy, từ sự giao hòa văn hóa Việt - Chăm - Hoa, hệ thống nữ thần sông nước ở xứ Quảng vừa mang yếu tố bản địa, vừa thấm đẫm sắc thái văn hóa sông nước miền Trung, biểu hiện rõ nét tinh thần biết ơn thiên nhiên và khát vọng an cư của cộng đồng cư dân ven sông, ven biển.
* Cá Ông - Vị thần hộ mệnh của ngư dân
Thờ cúng cá Ông vốn là tín ngưỡng truyền thống của người Chăm, trong quá trình sinh tụ, người Việt đã tiếp nhận vốn văn hóa này. Trải dài theo thời gian, hình ảnh cá Ông độ mạng, giúp đỡ ngư dân trên biển đã trở thành chỗ dựa tinh thần quý giá cho ngư dân, giúp họ trong cuộc mưu sinh. Gia Định thành thông chí được Trịnh Hoài Đức viết dưới thời nhà Nguyễn cho biết: “Những khi thuyền bè gặp sóng gió nguy hiểm, thường thấy thần [cá Ông] dìu đỡ mạn thuyền bảo vệ người yên ổn. Hoặc thuyền bị chìm đắm, trong cơn sóng gió thần cũng đưa người vào bờ, sự cứu giúp ấy rất rõ. Chỉ nước Nam ta từ Linh Giang đến Hà Tiên mới có việc ấy và rất linh nghiệm, còn các biển khác thì không có”.
Trên dải đất ven biển xứ Quảng, hầu như làng chài nào cũng có lăng Ông, từ Cửa Đại, Cù Lao Chàm, Tam Quan đến Mân Thái, Nại Hiên, Thọ Quang… Tất cả đều lưu giữ tín ngưỡng thờ cá Ông như một phần của bản sắc vùng biển miền Trung. Khi cá Ông sống, ngư dân gọi là Ông Sanh là ân nhân cứu sống sinh mạng, khi cá Ông chết (gọi là Ông Lụy) thì họ chịu tang như đối với người thân của mình.
Ngư dân thường tổ chức lễ hội Cầu Ngư để cầu an, cầu mùa mỗi năm theo kiểu “xuân thu nhị kỳ”. Sau phần nghinh Ông và tế chánh - nghi thức mở biển cho mùa đánh bắt mới, là phần hội sôi nổi với các trò diễn dân gian như hát bả trạo, hát hò khoan, bài chòi, đua thuyền, kéo co… vừa vui tươi vừa thiêng liêng, biểu trưng cho tinh thần đoàn kết và khát vọng no đủ.
*Giữ mạch nguồn văn hóa sông nước giữa nhịp sống hiện đại
Tín ngưỡng sông nước như bao di sản văn hóa phi vật thể khác đang đứng trước nhiều thách thức. Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa khiến không gian lễ hội bị thu hẹp, nhiều sinh hoạt cộng đồng mất dần tính thiêng. Ở nhiều làng biển, đội hát Bả trạo đã thưa dần; nghi thức cổ bị giản lược, thay thế bằng các hoạt động thương mại, sân khấu hóa. Sự mai một này không chỉ làm mất đi một di sản văn hóa dân gian độc đáo mà còn làm đứt gãy mối liên kết tinh thần giữa con người với thiên nhiên.
Tuy nhiên, một số địa phương ven biển từ Thanh Khê, Sơn Trà vào Hội An, Duy Xuyên đến Thăng Bình, Núi Thành… đã phục dựng nhiều lễ hội truyền thống gắn với phát triển du lịch văn hóa. Một số đội bả trạo trẻ được thành lập, kết hợp biểu diễn phục vụ du khách, vừa tạo sinh kế vừa bảo tồn nghệ thuật cổ. Nhiều lăng Ông, miếu Bà được trùng tu, công nhận di tích cấp tỉnh hoặc cấp quốc gia, trở thành điểm đến văn hóa tâm linh hấp dẫn.

Hát Bả trạo trong lễ hội Cầu Ngư ở Cù Lao Chàm. Ảnh: Minh Hải
Để những giá trị tâm linh sông nước tiếp tục lan tỏa, cần định hướng “bảo tồn phát triển” vừa tôn trọng tính nguyên gốc, vừa phát triển thích ứng với đời sống hiện đại. Trước hết cần lấy người dân làm chủ thể, được trao quyền chủ động trong việc tổ chức và hưởng thụ lễ hội, tránh biến họ thành “khán giả” trong chính không gian văn hóa của mình. Ngoài ra, để tín ngưỡng sông nước có thể trở thành sản phẩm du lịch tâm linh độc đáo thì có thể tổ chức lễ hội sông nước kết hợp các tour du lịch của vùng, góp phần quảng bá hình ảnh Đà Nẵng như một địa phương có “văn hóa sông biển” giàu bản sắc.
Ngày nay, dù nhịp sống hiện đại làm nhiều giá trị văn hóa phai nhạt, nhưng ở vùng đất xứ Quảng, tín ngưỡng sông nước vẫn còn đó như mạch ngầm văn hóa, bền bỉ tồn tại, phát triển qua nhiều thế hệ. Đó không chỉ là niềm tin tâm linh, mà còn là bản sắc, là ký ức văn hóa cộng đồng, giúp con người xứ Quảng gìn giữ hồn cốt của mình giữa sóng gió thời đại.
H.T.H